Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Isaac Bashevis Singer- Sức mạnh của Ánh sáng


Trong Thế chiến thứ II, sau những trận ném bom liên miên của Đức quốc xã lên trại tập trung Warsaw, một cậu bé và một cô bé đã trốn trong một trong đống đổ nát- đó là David, mười bốn tuổi, và Rebecca, mười ba tuổi.
Bấy giờ là mùa đông và trời thì lạnh buốt. Đã nhiều tuần, Rebecca chưa nhìn thấy ánh sáng, một phần căn hầm đổ nát là chỗ bọn trẻ ẩn náu, cứ mỗi vài ngày David lại phải ra ngoài để tìm thức ăn. Tất cả các cửa hàng đều đã bị phá hủy trong trận bom, thỉnh thoảng David tìm thấy vài mẩu bánh mì cũ, mấy lon thực phẩm, hoặc bất cứ thứ gì bị chôn vùi. Đôi khi gạch vữa rơi xuống và cậu ta có thể dễ dàng bị lạc đường. Nhưng nếu cậu và Rebecca không muốn chết đói, cậu phải chấp nhận những hiểm nguy.
Hôm đó là một trong những ngày lạnh giá nhất. Rebecca ngồi trên nền đất và quấn quanh người tất cả những thứ áo quần mà cô có được; nhưng cô bé vẫn không thể ấm lên đươc. David đã ra ngoài trước đó nhiều giờ, và Rebecca chờ nghe trong bóng tối những âm thanh báo hiệu mỗi khi cậu quay về, cô biết rằng nếu cậu không trở lại thì cô chỉ có chết.
Đột nhiên, cô nghe thấy tiếng thở nặng nhọc và tiếng động như tiếng chân nhảy xuống. David đã quay về. Rebecca buột miệng kêu lên "David!"
“Rebecca!”
Trong bóng tối, họ ôm nhau thật thắm thiết. Rồi David nói, "Rebecca, anh tìm thấy một kho báu."
“Là một kho báu sao?”
"Pho mát, khoai tây, nấm khô, và một gói kẹo- ngoài ra anh có một bất ngờ cho em đây."
"Bất ngờ ư?"
"Để lát nữa đã".
Cả hai không thể nói chuyện lâu vì đều quá đói. Họ ăn ngấu nghiến khoai tây đông lạnh, nấm, và một phần pho mát. Mỗi người một viên kẹo. Sau đó, Rebecca hỏi, "Bây giờ là ngày hay đêm?"
"Anh nghĩ là đêm rồi," David trả lời. Cậu có một chiếc đồng hồ đeo tay để theo dõi ngày đêm, các ngày trong tuần và trong tháng. Một lát sau Rebecca lại hỏi, "Thế bất ngờ là gì vậy anh?"
"Rebecca, hôm nay là ngày đầu tiên của lễ Ánh sáng, và anh đã tìm được một ngọn nến và mấy que diêm."
"Tối nay là lễ Ánh sáng ư?"
"Ừ."
"Ôi lạy Chúa !"
"Anh sẽ thắp nến Ánh sáng", David nói.
Cậu bật một que diêm sáng lên. Rebecca và David chăm chú nhìn vào đống gạch đá nơi họ ẩn nấp, những đường ống và nền đất gồ ghề. Cậu châm nến. Rebecca chớp chớp đôi mắt. Lần đầu tiên sau nhiều tuần cô thực sự nhìn thấy David. Mái tóc cậu rối bù và khuôn mặt dính đầy bụi bẩn, nhưng mắt cậu ánh lên niềm vui. Mặc dù đói khát và đầy đoạ David đã cao hơn, mạnh mẽ và dường như già trước tuổi. Những người trẻ như họ đều quyết định kết hôn nếu họ có thể tìm cách thoát khỏi vùng chiến sự Warsaw. Như một dấu hiệu của sự đính ước, David đã tặng Rebecca một grouches bóng mà cậu đã tìm thấy trong túi của mình vào cái ngày mà tòa nhà nơi cả hai sinh sống bị đánh bom.
Giờ thì David đọc kinh chúc lành trên ngọn nến Ánh sáng, rồi Rebecca đáp: "Amen." Cả hai đều đã mất gia đình và họ có lý do để tức giận với Thiên Chúa vì đã mang lại cho họ quá nhiều đau khổ, nhưng ánh sáng của ngọn nến mang lại bình yên trong hồn họ. Đó là tia sáng bừng lên giữa bóng tối bao quanh, dường như muốn nhủ rằng: Quỷ dữ vẫn chưa thống trị hoàn toàn. Vẫn còn một tia hy vọng.
Đã nhiều lần David và Rebecca nghĩ cách thoát khỏi Warsaw. Nhưng bằng cách nào? Trại tập trung bị bọn Đức quốc xã theo dõi ngày đêm. Mỗi bước đi là một sự nguy hiểm. Rebecca cứ trì hoãn việc trốn thoát. Vào mùa hè thì dễ hơn, cô thường nói như vậy, nhưng David biết rằng trong tình trạng khó khăn của họ, có rất ít cơ hội để kéo dài cho đến lúc đó. Một nơi nào đó trong khu rừng có những thanh niên nam nữ được gọi là du kích chiến đấu chống lại quân xâm lược Đức quốc xã. David muốn đến với họ. Bây giờ, dưới ngọn nến Ánh sáng, Rebecca đột nhiên cảm thấy can đảm hơn. Cô nói, "David, chúng ta hãy đi đi."
"Khi nào?"
"Khi anh nghĩ rằng đã dến lúc", cô trả lời.
"Đến lúc là bây giờ đây.", David nói. "Anh có một kế hoạch."
David giải thích các chi tiết trong kế hoạch của mình cho Rebecca một hồi lâu. Lần này sẽ rủi ro hơn. Đức quốc xã đã rào trại tập trung với dây thép gai và lính canh được trang bị súng máy trên các mái nhà xung quanh. Ban đêm đèn pha soi rõ mọi thứ hiện diện trong khu trại tập trung đã bị phá hủy. Nhưng trong những lúc lang thang quanh đống đổ nát, David đã tìm thấy một lỗ cống mà cậu nghĩ có thể thoát ra ngoài. David nói với Rebecca rằng cơ hội duy trì sự sống của họ rất ít. Họ có thể bị chết ngập trong nước bẩn hoặc chết cóng với nhau. Ngoài ra, cống rãnh lúc nhúc lũ chuột đói. Nhưng Rebecca chấp nhận rủi ro: ở lại trong hầm vào mùa đông cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận cái chết.
Khi ngọn nến Ánh sáng bắt đầu bắn lên lách tách và nhấp nháy trước khi đi tắt hẳn, David và Rebecca thu dọn đồ đạc. Cô gói thực phẩm còn lại trong một chiếc khăn, còn David vơ lấy những que diêm và một đoạn ống tuýp làm vũ khí.
Trong những khoảnh khắc cực kỳ hiểm nguy con người ta trở nên can đảm khác thường. David và Rebecca đã nhanh chóng băng qua những đống đổ nát. Chúng men theo những lối đi hẹp đến nỗi họ phải bò bằng tay và đầu gối. Nhưng họ đã có thức ăn và niềm vui từ ngọn nến Ánh sáng khích lệ chúng, tiếp thêm can đảm để chúng tiếp tục hành trình. Một lúc sau, David tìm thấy lối vào đường cống. May mắn thay nước thải đã đóng băng, và dường như lũ chuột đã bỏ đi hết vì trời quá lạnh. Chúng cứ đi, rồi David và Rebecca dừng lại để nghỉ ngơi và lắng nghe. Sau đó chúng bò, một cách từ từ và thận trọng. Đột nhiên, chúng dừng lại ở ngay lối chúng đang đi. Chúng nghe thấy tiếng lách cách của một chiếc xe xe đẩy từ bên trên. Chúng biết mình đã ra phía bên ngoài của trại tập trung. Bây giờ tất cả những gì chúng cần phải làm là tìm cách thoát ra khỏi đường cống và rời khỏi thành phố càng nhanh càng tốt.
Nhiều phép lạ dường như xảy ra trong đêm lễ Ánh sáng đó. Vì bọn lính quốc xã sợ máy bay đồng minh nên đã ra lệnh cắt điện hoàn toàn. Và vì trời quá lạnh nên có rất ít lính canh Gestapo. David và Rebecca rời khỏi cống thoát nước và thoát khỏi thành phố mà không bị bắt. Rạng sáng, chúng tới một khu rừng nơi chúng đã có thể nghỉ ngơi và ăn lót dạ.
Mặc dù du kích quân ở không xa Warsaw, David và Rebecca phải mất một tuần để đến được với họ. Chúng đi vào ban đêm và ẩn nấp vào ban ngày, khi thì trong kho thóc, lúc trong chuồng gia súc. Vài người nông dân lén lút giúp quân du kích và những người đã bỏ chạy khỏi bọn quốc xã. Trên đường đi, David và Rebecca được ăn bánh mì, khoai tây, củ cải, hoặc bất cứ thứ gì những người nông dân có thể giúp chúng. Trong một ngôi làng, chúng gặp một du kích quân Do Thái, người đã đến để lấy thức ăn cho nhóm của mình. Anh thuộc tổ chức Haganah, một tổ chức đã gửi những thanh niên từ Israel đến giải cứu những người tị nạn Do Thái từ vùng Ba Lan bị Đức chiếm đóng. Người thanh niên này đã đưa David và Rebecca đến chỗ du kích quân, những người rong ruổi trong rừng. Đó là ngày cuối cùng của lễ Ánh sáng, và tối hôm đó những du kích quân thắp sáng tám ngọn nến. Một số người trong số họ chơi trò con quay1 trên một gốc cây sồi bị cưa trong khi những người khác đứng xem.
Từ ngày David và Rebecca gặp du kích quân, cuộc sống của chúng giống như một cuốn truyện. Họ thu nhận thêm ngày càng nhiều những người tị nạn mà tất cả đều có một ham muốn- đó là định cư trên mảnh đất Israel. Không phải lúc nào họ cũng đi bằng tàu hỏa hoặc xe buýt. Họ đi bộ. Họ ngủ trong chuồng gia súc, trong những căn nhà cháy trụi và bất cứ nơi nào họ có thể ẩn nấp kẻ thù. Để đến được đích, họ phải băng qua Tiệp Khắc, Hungary, và Nam Tư. Một nơi nào đó bên bờ biển Nam Tư, vào giữa đêm, một chiếc thuyền nhỏ của tổ chức Haganah chờ họ, và tất cả những người tị nạn cùng với đồ đạc ít ỏi được đưa lên thuyền. Tất cả diễn ra một cách thầm lặng và bí mật tuyệt đối, bởi quân Đức đang chiếm đóng Nam Tư.
Nhưng hiểm nguy vẫn chưa rời bỏ họ. Mặc dù đang là mùa xuân, biển vẫn đầy bão tố và con thuyền thì quá nhỏ để có thể chịu đựng một chuyến vượt biển dài ngày. Máy bay của Đức Quốc xã luôn rình rập và cố thả bom đánh đắm thuyền, nhưng không hiệu quả. Họ cũng cảnh giác với tàu ngầm của Đức Quốc xã rình rập dưới lòng biển. Những người tị nạn chỉ có thể cầu nguyện, và lần này dường như Thiên Chúa nghe thấy những lời nguyện cầu của họ, và họ đã cập bến một cách an toàn.
Người dân Do Thái ở Israel chào đón họ với tình yêu thương đã làm cho họ quên đi những cơ cực trên đường đi. Họ là những người tị nạn đầu tiên đến được vùng Đất Thánh, và họ đã được chu cấp đầy đủ những sự giúp đỡ cần thiết. Rebecca và David tìm thấy người thân ở Israel và họ đã chấp nhận chúng trong vòng tay ấm áp khi mà chúng đã trở nên khá ốm yếu, tuy nhiên chúng đã mau chóng phục hồi sức khỏe. Sau một thời gian nghỉ ngơi, chúng đã được gửi đến một ngôi trường đặc biệt, nơi những người nước ngoài được dạy tiếng Do Thái hiện đại. Cả David và Rebecca là những sinh viên chăm chỉ. Sau khi kết thúc trung học, David đã gia nhập học viện kỹ thuật ở Haifa, và Rebecca với khả năng ngôn ngữ và văn học xuất sắc, được tiếp tục theo học ở Tel Aviv- nhưng chúng vẫn gặp nhau vào mỗi cuối tuần. Khi Rebecca mười tám tuổi, cô và David kết hôn. Họ tìm được một ngôi nhà nhỏ với một khu vườn ở Ramat Gan, ngoại ô Tel Aviv.
Tôi biết tất cả điều này vì David và Rebecca đã kể cho tôi nghe câu chuyện của họ vào một đêm lễ Ánh sáng trong ngôi nhà của họ ở Ramat Gan khoảng tám năm sau đó. Những ngọn nến Ánh sáng được thắp lên, và Rebecca đãi mọi người bánh khoai tây chiên với sốt táo. David và tôi chơi trò con quay cùng cậu con trai bé nhỏ của họ, Menahem Eliezer, được đặt theo tên lót của hai người ông của nó. David nói rằng con quay lớn bằng gỗ này là một trong những con quay mà những du kích quân đã chơi vào đêm lễ Ánh sáng trong khu rừng Ba Lan ngày trước. Rebecca nói với tôi, "Nếu không có ngọn nến Ánh sáng nhỏ nhoi mà David mang về nơi ẩn náu của chúng tôi, chúng tôi sẽ không được ngồi ở đây hôm nay. Đó là tia sáng khơi dậy trong chúng tôi niềm hy vọng và sức mạnh trong bản thân mình mà chúng tôi không hề biết . Chúng tôi sẽ giữ lại con quay cho Menahem Eliezer cho đến khi nó đủ lớn để hiểu những gì bố mẹ nó đã trải qua và đã được cứu thoát một cách kỳ diệu như thế nào.”
Dịch từ bản tiếng Anh "The Power of Light”


_________________________________________
(1) Lễ Ánh sáng (nguyên tác: Hanukkah- tiếng Hebrew: חנוכה) là một lễ hội truyền thống kéo dài tám ngày của dân tộc Do Thái. Lễ hội bắt đầu vào ngày thứ 25 của tháng Kislev, vốn có thể rơi vào bất kỳ lúc nào giữa tháng 11 đến cuối tháng 12. Hanukkah còn có tên gọi là Lễ hội Ánh sáng. Đặc điểm nổi bật của lễ hội là người dân sẽ thắp một ngọn đèn vào mỗi đêm của lễ hội, cho đến đêm thứ 8 sẽ có 8 ngọn đèn được thắp sáng.
(2) Trò con quay (nguyên tác: dreidel- tiếng Hebrew: סביבון) hình khối bốn mặt là trò chơi của người Do Thái trong dịp lễ Ánh Sáng. Biến thể của trò chơi này là trò cờ bạc trong nhiều nền văn hóa châu Âu.



Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Lái sách, viết sách và dịch sách


Viết sách và dịch sách thì có thể có liên quan với nhau nhưng mà lái sách thì có dây mơ rễ má gì với hai thứ trên? Chả là mới vớ được một tập đoản thiên của nhiều tác giả quốc tế được dịch và xuất bản thời tiền chiến (nhà Đời Nay in năm 1943 trên giấy dó). Trong tập này hiện diện 2 vị đã từng đoạt giải Nobel văn học (Luigi Pirandello và Rabindranath Tagore), tuy nhiên mình lại cực kỳ ấn tượng với truyện "Người lái sách" của Stefan Zweig qua một bản dịch cũng rất hay của dịch giả Huyền Hà.



Một đoạn trích phác họa tương đối rõ nét chân dung nhận vật chính- người lái sách Jacob Mendel:

…Khi nào có ai đưa cho Mendel xem một quyển sách không quan trọng mấy, y gập sách đánh phập một cái mà lẩm bẩm rằng "Cái này đáng giá hai couronne". Trái lại, gặp được một bản sách độc nhất, hay hiếm có, y kính trọng ngả người về đằng sau, và cẩn thận đặt sách lên một tờ giấy trắng tinh. Y xấu hổ ra nét mặt, vì ngón tay mình giây mực bẩn thỉu. Rồi y giở từng trang cuốn sách quý kia, với một vẻ thật là thành kính. Trong lúc đó không ai có thể làm rộn y được, cũng như ta không thể làm rộn được một tín đồ đương cầm lòng cầm trí đọc kinh vậy. Cái lối chiêm ngưỡng, sờ, ngửi và cân nhắc sách ấy giống như những nghi tiết thiêng liêng của một lễ đạo. Y lắc lư cái lưng còng, mồm lúng búng mấy tiếng, và tay thì quờ lên đám tóc rậm rì. Y thốt lên tiếng ngạc nhiên, khi thì một tiếng à! dài tỏ ra mình cảm phục say đắm, khi thì một tiếng ối! sợ sệt, khi nào y gặp một trang thiếu hay bị mọt đục. Sau cùng, y kính cẩn nâng quyển sách cổ lên. Đôi mắt lim dim, y hít lấy hương sách, sung sướng như một thiếu nữ giàu tình cảm đương ngắm nhìn một đoá hồng. Trong những lớp hành động lâu la và rắc rối ấy, chắc là chủ nhân quyển sách phải chịu khó chờ. Nhưng sau cuộc xem xét kỹ càng đó, Mendel bảo cho biết tất cả những điều cần thiết một cách đon đả và có thể gọi là đầy khởi hứng nữa; y không quên thêm thắt vào đấy những câu giai thoại kỳ thú và những lời chỉ dẫn ích lợi về giá bán các bản sách tương tự. Những lúc đó y như trẻ con, khoẻ hơn. Duy có việc này là có thể làm cho y nổi tam bành: là cử chỉ do hảo tâm của một kẻ mới tập nghề chơi sách muốn biếu một số tiền thưởng để đền công giám định của y. Khi ấy y sẽ phật lòng, lùi lại như lối một nhà giữ viện bảo tàng từ chối số tiền thưởng của một ông dân Mỹ. Được giở trang giấy một bản sách hiếm, thế là Mendel đã được sung sướng giống như cái khoái lạc của một tình lang đương vuốt ve người giai ngẫu. Những thời khắc đó là những đêm tình ái bằng tinh thần của y vậy. Duy sách vở là có ảnh hưởng với y, bạc tiền thì tịnh không bao giờ. Các nhà chơi sách tiếng tăm, trong số đó có viên sáng lập ra đại học đường thành Princeton, đã uổng công vời đến y, cho y làm cố vấn hay làm người mua hộ, bao giờ y cũng từ chối. Y không thể ở đâu ngoài nhà hàng cà phê Gluck...

Về tác giả Stefan Zweig thì không cần nói nhiều, nhà văn Áo cực kỳ nổi tiếng vào thời kỳ giữa 2 cuộc đại chiến thế giới với sức sáng tác mạnh mẽ và khả năng phân tích tâm lý nhân vật độc đáo. Ai đã từng đọc Nỗi sợ hay Kỳ thủ thì sẽ hiểu được điều này.

Theo thông tin từ một bạn bên sachxua.net thì Huyền Hà là một dịch giả thời tiền chiến, tên thật là Nguyễn Lan Hòa, sinh năm 1915 và mất năm 1946 khi ông còn rất trẻ (mới được 31 tuổi). Lúc sinh thời, ông là cây bút dịch thuật rất được yêu chuộng. Hầu hết các nhật báo, tạp chí thời đó đều tìm cách in đoản kỳ (feuilleton) các dịch phẩm của ông để giữ độc giả. Mặc dù các tác phẩm dịch của ông đầy rẫy trong báo chí, thế nhưng không một tác phẩm nào được in thành sách. Mãi cho đến 50 năm sau, ái nữ của Huyền Hà là bà Nguyễn Thị Hương Lan, một khảo cứu gia sinh vật học ở Paris đã khổ công sưu tầm, dở tìm từ những chồng báo cũ trong thư viện, sao chép để có được “Tuyển tập truyện dịch hay nhất” như ngày nay (NXB Nam Á in ở hải ngoại).

Tuy nhiên theo mình biết thì đã có 1 bộ “Sách rừng” gồm 4 tập được Huyền Hà dịch và Nhà Đời Nay ấn hành vào các năm 1943- 1944, đây chính là “The jungle book” nổi tiếng của Rudyard Kipling, nhà văn người Anh và là nhà văn trẻ nhất đoạt giải Nobel văn học, ông nhận giải năm 1905 khi mới 42 tuổi. Dưới đây là 3 trong 4 tập của bộ sách dịch đó.