Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Lái sách, viết sách và dịch sách


Viết sách và dịch sách thì có thể có liên quan với nhau nhưng mà lái sách thì có dây mơ rễ má gì với hai thứ trên? Chả là mới vớ được một tập đoản thiên của nhiều tác giả quốc tế được dịch và xuất bản thời tiền chiến (nhà Đời Nay in năm 1943 trên giấy dó). Trong tập này hiện diện 2 vị đã từng đoạt giải Nobel văn học (Luigi Pirandello và Rabindranath Tagore), tuy nhiên mình lại cực kỳ ấn tượng với truyện "Người lái sách" của Stefan Zweig qua một bản dịch cũng rất hay của dịch giả Huyền Hà.



Một đoạn trích phác họa tương đối rõ nét chân dung nhận vật chính- người lái sách Jacob Mendel:

…Khi nào có ai đưa cho Mendel xem một quyển sách không quan trọng mấy, y gập sách đánh phập một cái mà lẩm bẩm rằng "Cái này đáng giá hai couronne". Trái lại, gặp được một bản sách độc nhất, hay hiếm có, y kính trọng ngả người về đằng sau, và cẩn thận đặt sách lên một tờ giấy trắng tinh. Y xấu hổ ra nét mặt, vì ngón tay mình giây mực bẩn thỉu. Rồi y giở từng trang cuốn sách quý kia, với một vẻ thật là thành kính. Trong lúc đó không ai có thể làm rộn y được, cũng như ta không thể làm rộn được một tín đồ đương cầm lòng cầm trí đọc kinh vậy. Cái lối chiêm ngưỡng, sờ, ngửi và cân nhắc sách ấy giống như những nghi tiết thiêng liêng của một lễ đạo. Y lắc lư cái lưng còng, mồm lúng búng mấy tiếng, và tay thì quờ lên đám tóc rậm rì. Y thốt lên tiếng ngạc nhiên, khi thì một tiếng à! dài tỏ ra mình cảm phục say đắm, khi thì một tiếng ối! sợ sệt, khi nào y gặp một trang thiếu hay bị mọt đục. Sau cùng, y kính cẩn nâng quyển sách cổ lên. Đôi mắt lim dim, y hít lấy hương sách, sung sướng như một thiếu nữ giàu tình cảm đương ngắm nhìn một đoá hồng. Trong những lớp hành động lâu la và rắc rối ấy, chắc là chủ nhân quyển sách phải chịu khó chờ. Nhưng sau cuộc xem xét kỹ càng đó, Mendel bảo cho biết tất cả những điều cần thiết một cách đon đả và có thể gọi là đầy khởi hứng nữa; y không quên thêm thắt vào đấy những câu giai thoại kỳ thú và những lời chỉ dẫn ích lợi về giá bán các bản sách tương tự. Những lúc đó y như trẻ con, khoẻ hơn. Duy có việc này là có thể làm cho y nổi tam bành: là cử chỉ do hảo tâm của một kẻ mới tập nghề chơi sách muốn biếu một số tiền thưởng để đền công giám định của y. Khi ấy y sẽ phật lòng, lùi lại như lối một nhà giữ viện bảo tàng từ chối số tiền thưởng của một ông dân Mỹ. Được giở trang giấy một bản sách hiếm, thế là Mendel đã được sung sướng giống như cái khoái lạc của một tình lang đương vuốt ve người giai ngẫu. Những thời khắc đó là những đêm tình ái bằng tinh thần của y vậy. Duy sách vở là có ảnh hưởng với y, bạc tiền thì tịnh không bao giờ. Các nhà chơi sách tiếng tăm, trong số đó có viên sáng lập ra đại học đường thành Princeton, đã uổng công vời đến y, cho y làm cố vấn hay làm người mua hộ, bao giờ y cũng từ chối. Y không thể ở đâu ngoài nhà hàng cà phê Gluck...

Về tác giả Stefan Zweig thì không cần nói nhiều, nhà văn Áo cực kỳ nổi tiếng vào thời kỳ giữa 2 cuộc đại chiến thế giới với sức sáng tác mạnh mẽ và khả năng phân tích tâm lý nhân vật độc đáo. Ai đã từng đọc Nỗi sợ hay Kỳ thủ thì sẽ hiểu được điều này.

Theo thông tin từ một bạn bên sachxua.net thì Huyền Hà là một dịch giả thời tiền chiến, tên thật là Nguyễn Lan Hòa, sinh năm 1915 và mất năm 1946 khi ông còn rất trẻ (mới được 31 tuổi). Lúc sinh thời, ông là cây bút dịch thuật rất được yêu chuộng. Hầu hết các nhật báo, tạp chí thời đó đều tìm cách in đoản kỳ (feuilleton) các dịch phẩm của ông để giữ độc giả. Mặc dù các tác phẩm dịch của ông đầy rẫy trong báo chí, thế nhưng không một tác phẩm nào được in thành sách. Mãi cho đến 50 năm sau, ái nữ của Huyền Hà là bà Nguyễn Thị Hương Lan, một khảo cứu gia sinh vật học ở Paris đã khổ công sưu tầm, dở tìm từ những chồng báo cũ trong thư viện, sao chép để có được “Tuyển tập truyện dịch hay nhất” như ngày nay (NXB Nam Á in ở hải ngoại).

Tuy nhiên theo mình biết thì đã có 1 bộ “Sách rừng” gồm 4 tập được Huyền Hà dịch và Nhà Đời Nay ấn hành vào các năm 1943- 1944, đây chính là “The jungle book” nổi tiếng của Rudyard Kipling, nhà văn người Anh và là nhà văn trẻ nhất đoạt giải Nobel văn học, ông nhận giải năm 1905 khi mới 42 tuổi. Dưới đây là 3 trong 4 tập của bộ sách dịch đó.