Anatole
France (16/04/1844 - 12/10/1924) là nhà thơ, nhà báo và
tiểu thuyết gia Pháp. Ông sinh tại Paris, và qua đời tại Saint-Cyr-sur-Loire, ông
được xem là một trong những tên tuổi lớn của văn học Pháp giai đoạn cuối thế kỷ
19 và đầu thế kỷ 20. Anatole France còn là thành viên của Viện Hàn lâm Pháp và được trao giải Nobel Văn học năm 1921 để ghi nhận những thành tựu văn chương
của ông. Trong những năm 1920 tác phẩm của A. France bị đưa vào Danh mục
Sách Cấm của Giáo Hội Công Giáo La Mã.
A.
France có nhiều sáng tác cho thiếu nhi tiêu biểu như “Le Livre de mon ami”
(Sách của bạn tôi, 1885), “Les Contes de Jacques Tournebroche” (Những mẩu
chuyện của Jacques Tournebroche, 1908), “Les Sept Femmes de Barbe bleue et
autres contes merveilleux” (Bảy bà vợ của ông Barbe và những câu chuyện kỳ lạ khác,
1909),… Dưới đây là tập “Nos enfants Scènes de la Ville et des Champs” (Tuổi
thơ nơi thành thị và thôn quê, 1909) được dịch qua bản Tiếng Anh “Child Life In
Town And Country 1909” của Alfred Allinson.
Menaseh là một cậu bé mồ côi. Cậu sống với chú Mendel, một
người thợ kiếng nghèo và thậm chí không thể lo nổi ăn mặc cho những đứa con của
mình. Menaseh đã học xong tiểu học và sau kỳ nghỉ thu là cậu phải đến học nghề
chỗ một bác thợ đóng sách.
Menaseh luôn là một đứa trẻ tò mò. Cậu bắt đầu đặt câu hỏi
ngay khi vừa biết nói: "Bầu trời cao ra sao?”, “Lòng đất sâu thế
nào?", “Bên kia thế giới là gì?”. “Tại sao mọi người được sinh ra?”, “Tại sao
họ chết đi?”
Đó là một ngày hè nóng nực và ẩm ướt. Một đám sương mù
vàng choé quét qua làng. Mặt trời nhỏ xíu như một mặt trăng và ửng vàng như đồng
thau. Lũ chó vừa ngảy cẫng vừa ngoe ngoẩy đuôi. Bầy bồ câu thư thả nghỉ ngơi giữa
khu chợ. Mấy chú dê nép mình dưới mái hiên của những túp lều, nhai đi nhai lại
mớ cỏ và lắc lư chòm râu.
Menaseh cãi nhau với thím Dvosha và bỏ nhà đi mà chẳng về
ăn trưa, cậu khoảng mười hai tuổi, khuôn mặt hơi dài, đôi mắt đen, má lúm. Cậu
mặc một chiếc áo khoác rách và đi chân trần. Vật sở hữu duy nhất của cậu là một
cuốn truyện cũ nát mà cậu đã đọc đi đọc lại nhiều lần. Đó là cuốn “Một mình giữa rừng hoang”. Ngôi làng
nơi cậu sống nằm giữa một khu rừng bao quanh nó như một vành khăn và người ta bảo
rằng nó kéo dài đến tận Lublin. Giờ đang là mùa việt quất và đây đó người ta
cũng có thể tìm thấy dâu dại. Menaseh tìm đường băng qua các đồng cỏ và cánh đồng
lúa mì. Cậu đói và cậu nhổ một cây lúa mì để nhai hạt. Trên bãi cỏ, lũ bò nằm
dài, trời quá nóng đến nỗi thậm chí chúng chẳng buồn phe phẩy đuôi để đuổi ruồi
nữa. Hai con ngựa đứng tư lự, đầu con này kề sát mông con kia. Trên một cánh đồng
trồng kiều mạch, cậu bé ngạc nhiên khi thấy một con quạ đậu trên chiếc mũ rách
của một hình nộm.
Khi Menaseh vào rừng, trời mát mẻ. Những cây thông vươn
thẳng như những cây cột và trên lớp vỏ nâu của chúng treo lủng lẳng những chiếc
vòng vàng, ánh nắng rọi qua kẽ lá thông,
cậu nghe thấy tiếng chim cu và gõ kiến, và một con chim vô hình cứ lặp đi lặp lại
cùng một tiếng rít kỳ quái.
Menaseh bước cẩn thận trên những tấm thảm rêu. Cậu lội
qua một con suối cạn với tiếng róc rách len qua sỏi đá nghe rất vui tai. Khu rừng
vẫn dày đặc và đầy những âm thanh vọng lại.
Cậu lang thang sâu hơn vào khu rừng. Theo lệ thường, cậu
phải để lại đá làm dấu phía sau, nhưng hôm nay thì không. Cậu đơn độc, nhức đầu
và cảm thấy chồn gối. “Mình bị ốm rồi chăng?" Cậu nghĩ. "Có lẽ mình sẽ
chết. Lúc đó mình sẽ sớm được gặp Bố Mẹ”. Khi cậu đến một đám cây việt quất, cậu
ngồi xuống, hái từng quả và cho vào miệng. Nhưng chúng không làm thỏa mãn cơn
đói của cậu. Những loài hoa với hương say nồng mọc xen lẫn trong đám việt quất,
không nhận ra điều đó, Menaseh nằm dài trên nền rừng. Cậu ngủ thiếp đi, nhưng
trong giấc mơ, cậu tiếp tục bước đi.
Cây cối thậm chí trở nên cao hơn, hương thơm ngào ngạt
hơn, những chú chim lớn chuyền từ cành này sang cành kia. Mặt trời đang lặn. Rừng
trở nên thưa hơn và cậu nhanh chóng tiến đến trên một vùng đồng bằng quang đãng
dưới bầu trời chiều. Đột nhiên một lâu đài xuất hiện dưới ánh hoàng hôn.
Menaseh chưa bao giờ thấy một kiến trúc đẹp như vậy. Mái của nó được phủ toàn bạc
và từ đó mọc lên một một ngọn tháp bằng pha lê. Nhiều cửa sổ cao ngang chiều
cao tòa nhà. Menaseh tiến đến một trong các cửa sổ và nhìn vào bên trong. Trên
bức tường trước mặt, cậu nhìn thấy chân dung của chính cậu treo ở đó. Trong
hình cậu mặc bộ quần áo sang trọng mà cậu chưa bao giờ có được, căn phòng lớn
trống trơn.
"Sao lâu đài trống trơn thế nhỉ?" Cậu tự hỏi.
"Và sao bức chân dung của mình lại treo trên tường?" Cậu bé trong bức
ảnh dường như vẫn sống như người thật và nóng lòng chờ đợi ai đó. Rồi những cánh cửa mở toang
ra từ nơi mà trước đó chẳng có gì, và nhiều đàn ông và phụ nữ đi vào phòng. Họ
mặc áo sa tanh trắng, phụ nữ thì đeo trang sức và cầm sách lễ với bìa dập nổi
chữ vàng. Menaseh nhìn chằm chằm kinh ngạc. Cậu nhận ra bố, mẹ, ông, bà và những
người thân khác của cậu. Cậu muốn nhào tới chỗ họ, ôm và hôn họ, nhưng tấm kính
cửa sổ ngăn cậu lại. Cậu oà khóc. Ông nội cậu, nhà thông thái Tobias, tách khỏi
đám đông và đến bên cửa sổ, bộ râu của ông trắng tinh như áo khoác dài ông đang
mặc. Ông cao tuổi nhưng trông rất trẻ trung. "Tại sao cháu khóc?" ông
hỏi. Mặc dù lớp kính ngăn cách họ, Menaseh nghe ông nói rất rõ.
Ông nội cậu âu yếm nhìn cậu và nói: "Rồi một ngày
nào đó cháu sẽ sống với chúng ta ở đây nhưng ngày đó chưa đến.”
"Cháu phải chờ đợi bao lâu?"
"Đó là một bí mật, nó sẽ đến trong nhiều năm, nhiều
năm nữa.”
“Ông nội, cháu không muốn phải chờ đợi quá lâu. Cháu đói,
khát và mệt nữa. Xin hãy cho cháu vào. Cháu nhớ bố, mẹ, ông, bà. Cháu không muốn
là trẻ mồ côi."
“Cháu yêu quý của ta. Chúng ta biết tất cả. Chúng ta luôn
nghĩ về cháu và yêu quý cháu. Tất cả chúng ta đang chờ đợi đến lúc chúng ta sẽ ở
cùng nhau, nhưng cháu phải kiên nhẫn. Cháu còn cả một cuộc hành trình dài trước
khi đến ở đây.”
"Thôi mà, cho cháu vài phút thôi,”
Ông nội Tobias rời khỏi cửa sổ và thì thầm với các thành
viên khác trong gia đình. Khi quay lại, ông nói: "Cháu có thể vào, nhưng
chỉ một lát thôi. Chúng ta sẽ cho cháu dạo một vòng quanh lâu đài và chỉ cháu
xem mấy kho báu của chúng ta, nhưng sau đó cháu phải rời khỏi đây.”
Một cánh cửa mở ra và Menaseh bước vào. Vừa mới bước qua
ngưỡng thì cơn đói và sự mệt mỏi của cậu biến mất. Cậu ôm ghì lấy bố mẹ và họ
hôn và ôm lấy cậu. Nhưng họ tuyệt nhiên không nói một lời nào. Cậu cảm thấy một
nguồn sáng kỳ lạ. Cậu đã lướt đi cùng với gia đình cậu. Ông nội cậu mở hết cửa
này đến cửa khác và mỗi lần ông mở cửa là mỗi lần Menaseh thêm ngạc nhiên hơn.
Một căn phòng xếp đầy các kệ áo quần con trai- nào là áo
jacket, áo sơ mi, áo khoác. Menaseh nhận ra những bộ áo quần cậu đã mặc lâu lắm
rồi mà cậu không thể nhớ. Cậu cũng nhận ra giày, vớ, mũ, và áo ngủ của cậu nữa.
Cánh cửa thứ hai mở ra và cậu nhìn thấy tất cả những đồ
chơi mà cậu đã từng có: những chú lính chì bố cậu đã mua cho cậu; chú hề nhảy mẹ
cậu đã mang về từ hội chợ ở Lublin; còi và kèn harmonica; gấu bông ông nội tặng
cậu trong một dịp lễ Purim và con ngựa gỗ là món quà của bà nội Sprintze nhân
ngày sinh nhật thứ sáu của cậu. Những cuốn vở cậu đã dùng để tập viết chữ, bút
chì và Kinh Thánh của cậu nằm trên bàn. Kinh Thánh đã được mở sẵn ra ngay tại
trang tiêu đề, với hình khắc quen thuộc ông Moses cầm các bản kinh thánh gỗ cùng
ông Aaron trong chiếc áo thầy tu, hình ảnh cả hai được bao quanh bởi một đường
viền là hình các thiên thần sáu cánh. Cậu thấy tên mình ghi nơi để viết tên.
Menaseh không kìm được sự kinh ngạc khi cánh cửa thứ ba mở
ra. Căn phòng này chứa đầy bong bóng xà phòng. Chúng không bị vỡ tung như bong
bóng xà phòng mà lửng lờ trôi, phản chiếu những sắc cầu vồng. Vài chiếc bong
bóng phản chiếu hình ảnh những lâu đài, những khu vườn, những dòng sông, những
chiếc cối xay gió, và nhiều cảnh đẹp khác. Menaseh biết đây là những bong bóng
mà cậu thường thổi từ chiếc ống bong bóng yêu thích của mình. Bây giờ dường như chúng có đời sống riêng của mình.
Cánh cửa thứ tư mở ra. Menaseh bước vào một căn phòng trống
không, nhưng đầy ắp những tiếng chuyện trò, những bài hát, và tiếng cười hạnh
phúc. Menaseh nghe giọng nói của chính mình và những bài hát mà cậu thường hát
khi còn sống cùng với bố mẹ ở nhà. Cậu cũng nghe giọng nói của những người bạn
cũ của mình, vài người cậu đã quên bẵng từ rất lâu.
Cánh cửa thứ năm dẫn đến một hội trường lớn. Bên trong đầy
những nhân vật trong các câu chuyện mà bố mẹ thường kể cho cậu nghe trước khi
đi ngủ. Và còn những vị anh hùng trong câu chuyện “Một mình giữa rừng hoang” của cậu nữa. Tất cả họ đều hiện diện:
Chiến binh David và nàng công chúa Ethiopia, người mà David cứu thoát khỏi nơi
giam cầm; tay trộm Bandurek, người đã trộm của người giàu và phân phát cho người
nghèo; Velikan khổng lồ, người có một mắt ở giữa trán và mang một quyền trượng
được làm từ cây linh sam bên tay phải và một con rắn bên tay trái; tên lùn
Pitzeles, có bộ râu kéo lê dưới đất và chuyên pha trò cho vị vua đáng sợ
Merodach; và pháp sư hai đầu Malkizedek, kẻ đã dùng phép phù thủy để dụ dỗ những
cô gái đáng thương vào sa mạc Sodom và Gomorrah.
Menaseh hầu như không có thời gian để xem hết bọn họ khi
cánh cửa thứ sáu mở ra. Ở đây mọi thứ đều liên tục biến hình. Các bức tường của
căn phòng quay như chóng chóng. Những hình ảnh lóe lên rồi từ một con ngựa bằng
vàng đã biến thành một con bướm màu xanh, một bông hồng lấp lánh như ánh mặt trời
biến thành một chiếc cốc với đầy châu chấu lửa, những vị thần nông màu tía và
những chú dơi màu bạc bay lượn. Vua Solomon ngồi trên ngai vàng lấp lánh dẫn
lên bởi bảy bậc cấp, ngài giống Menaseh như tạc, ngài đội một chiếc vương miện
và quỳ dưới chân ngài là Nữ hoàng Sheba. Một con công xòe đuôi và nói với vua
Solomon bằng tiếng Do Thái, mấy thầy tu Levites
chơi đàn lia. Những người khổng lồ khua kiếm trên không còn những nô lệ
Ethiopia cưỡi sư tử rót rượu và phục vụ những khay chứa đầy quả lựu. Trong giây
lát Menaseh không hiểu tất cả những điều này có nghĩa là gì. Rồi cậu nhận ra rằng
cậu đang trong mơ.
Đằng sau cánh cửa thứ bảy, Menaseh thoáng nhìn thấy nhiều
đàn ông, phụ nữ, động vật, và nhiều thứ hoàn toàn xa lạ với cậu. Các hình ảnh
không còn sống động như ở các căn phòng khác. Những hình thù trong suốt và được
bao phủ bởi lớp sương mù. Một cô bé trạc tuổi Menaseh đứng trên ngưỡng cửa. Tóc
cô thắt bím dài màu vàng. Mặc dù không thể nhìn rõ cô bé nhưng Menaseh thích cô
bé ngay lập tức. Lần đầu tiên cậu quay sang ông nội và hỏi “Tất cả những điều
này là gì?". Và ông nội cậu trả lời: "Đây là những con người và những
sự việc cháu sẽ gặp trong tương lai.”
“Cháu đang ở đâu?” Menaseh hỏi.
“Cháu đang ở trong một lâu đài có nhiều tên gọi. Chúng ta
muốn gọi nó là nơi mà chẳng có gì để mất. Còn nhiều điều kỳ lạ hơn nữa ở đây,
nhưng bây giờ đã đến lúc cháu phải đi rồi.”
Menaseh muốn nán lại nơi xa lạ này mãi mãi, cùng bố mẹ và
ông bà mình. Cậu nhìn ông nội như dò hỏi, nhưng người lắc đầu. Dường như bố mẹ
Menaseh vừa muốn cậu ở lại vừa muốn cậu rời đi càng nhanh càng tốt. Họ vẫn
không nói gì, nhưng ra hiệu cho cậu, và Menaseh hiểu rằng cậu đang gặp nguy hiểm
lớn. Đây có lẽ là một nơi bị cấm. Bố mẹ cậu lặng lẽ chào từ biệt cậu và mặt cậu
trở nên ẩm ướt và nóng bừng vì những nụ hôn của họ. Lập tức mọi thứ biến mất-
lâu đài, bố mẹ, ông bà, cô gái.
Menaseh giật mình tỉnh giấc. Lúc này khu rừng đã về đêm.
Sương đang rơi. Cao cao phía trên ngọn cây thông, mặt trăng tròn tỏa sáng và
sao trời lấp lánh. Menaseh trông thấy khuôn mặt một cô bé đang cúi xuống bên cậu.
Cô bé đi chân đất và mặc một chiếc váy vá chằng chịt, bím tóc dài của cô bé tỏa
sáng vàng rực dưới ánh trăng. Cô bé lắc cậu và bảo: “Dậy đi, dậy đi. Muộn rồi
và cậu không thể ở lại trong rừng được đâu.”
Menaseh ngồi dậy. “Cậu là ai?”
“Mình đang đi tìm quả chín và nhìn thấy cậu ở đây, mình
đã cố đánh thức cậu.”
“Cậu tên gì? "
“Channeleh, gia đình mình mới chuyển đến làng này tuần
trước.”
Cô bé trông rất quen, nhưng cậu không thể nhớ là đã gặp
cô ấy trước kia hay chưa. Rồi đột nhiên cậu nhận ra. Đó là cô bé mà cậu đã nhìn
thấy trong căn phòng thứ bảy, trước khi tỉnh dậy.
“Cậu nằm bất động như chết. Mình đã rất sợ khi nhìn thấy
cậu. Cậu đang mơ à? Mặt cậu trông rất nhợt nhạt còn môi thì cứ mấp máy.”
“Vâng, mình đã có một giấc mơ ".
“Mơ gì thế?”
“Một tòa lâu đài.”
"Lâu đài nào vậy? '
Menaseh không trả lời và cô bé cũng không nhắc lại câu hỏi.
Cô chìa tay về phía cậu và giúp cậu đứng dậy. Chúng cùng đi về nhà. Dường như
chưa bao giờ mặt trăng sáng tỏ và những ngôi sao lại gần đến vậy. Chúng bước
đi, bóng ngả về phía sau. Lũ dế cất tiếng rỉ rả. Bọn ếch ộp ộp như tiếng người.
Menaseh biết rằng chú cậu sẽ nổi giận với cậu vì về muộn.
Thím sẽ mắng cậu vì đã bỏ nhà đi mà không ăn trưa. Nhưng những điều này chả còn
quan trọng nữa. Trong giấc mơ của mình, cậu đã đến thăm một thế giới thật kỳ bí.
Cậu đã tìm được một người bạn, đó là Channeleh và cậu quyết định sẽ đi hái quả
chín vào ngày hôm sau.
Giữa các bụi cây và nấm dại, những người tí hon khoác áo
đỏ, đội mũ vàng và mang giày xanh lá hiện ra. Họ nhảy múa trong vòng tròn và
hát một bài hát mà chỉ được nghe thấy bởi những ai biết rằng mọi thứ vẫn sống và
không có điều gì mất đi bao giờ.
Ngô
Thanh Tuấn Dịch
từ bản tiếng Anh "Menaseh’s Dream"của Tác giả và Elizabeth Shub
Isaac Bashevis Singer chủ yếu viết bằng tiếng Yiddish (tiếng Đức
cổ của người Do Thái). Trong Diễn từ nhận giải Nobel (năm 1978), I.B. Singer
coi việc tặng giải cho ông là "sự thừa nhận đối với ngôn ngữ Yiddish - thứ
ngôn ngữ của lưu đầy, không đất đai, không biên thùy, không chính quyền nào ủng
hộ, một ngôn ngữ không có từ nào để nói về vũ khí, vũ trang, tập quân sự, thuật
chiến tranh, cái ngôn ngữ bị khinh rẻ bởi cả những người không phải Do Thái lẫn
những người Do Thái đã thoát khỏi gông xiềng"... Các nhà phê bình có những
đánh giá khác nhau về I.B. Singer, nhưng ông được coi là một người kể chuyện
tài hoa, hấp dẫn.
Năm 1970 ông nhận giải thưởng sách Quốc gia Hoa Kỳ (National Book
Awards) với cuốn hồi kí viết cho trẻ em “A day of pleasure: Stories of
a Boy Growing Up in Warsaw” (tạm dịch: “Ngày hạnh phúc: những mẩu
chuyện về cậu bé lớn lên ở Warsaw”). I.B. Singer nói rằng ông viết cho trẻ
em bởi vì "Chúng tin vào Thượng đế, vào ma quỷ, vào điều thiện và điều ác,
và vào tất cả các loại phép thuật...". "Zlateh the Goat" là
một trong những truyện ngắn xuất sắc viết cho trẻ em của ông.
***
Con đường từ làng lên thị trấn thường phủ đầy tuyết vào dịp lễ Ánh
sáng[1]. Nhưng năm nay mùa đông ấm hơn. Lễ Ánh sáng sắp
đến rồi mà chả có tí tuyết nào rơi. Cả ngày, trời đổ nắng. Dân làng than khổ vì
thời tiết quá khô làm cho mùa màng bị thất thu. Cỏ dại mọc đầy đồng và họ phải
lùa gia súc ra dọn cỏ.
Đó là một năm thật tệ hại với gia đình bác thợ da Reuven, sau một
thời gian dài đắn đo, bác quyết định bán chú dê Zlateh. Nó đã già và không còn
cho nhiều sữa nữa. Lão hàng thịt Feyvel trên thị trấn trả tám đồng tiền vàng để
mua nó. Số tiền thu về đủ để mua được nến Ánh sáng, khoai tây, dầu làm bánh
kếp, quà cho bọn trẻ và những thứ cần thiết khác cho các dịp lễ của gia đình.
Ông Reuven bảo cậu con trai lớn Aaron dắt dê lên thị trấn.
Aaron hiểu việc dắt dê lên giao cho lão Feyvel nghĩa là thế nào
nhưng cậu phải vâng lời cha. Bà Leah, mẹ cậu không cầm được nước mắt khi hay
tin. Hai đứa em gái Anna và Miriam thì khóc sướt mướt.
Aaron khoác áo choàng bông và đội mũ chụp tai, cậu buộc dây thừng
quanh cổ Zlateh và mang theo 2 miếng bánh mì kẹp pho mát để ăn trên đường.
Aaron phải giao chú dê vào buổi tối, nghỉ qua đêm tại cửa hàng thịt, và trở về
vào ngày hôm sau cùng với số tiền.
Trong khi những người trong gia đình bịn rịn chia tay chú dê thì
Aaron tròng dây thừng quanh cổ của nó, Zlateh đứng tần ngần và trông hiền hậu
hơn bao giờ hết. Nó liếm tay ông Reuven. Nó lắc lư chòm râu nhỏ màu trắng.
Zlateh tin mọi người. Nó biết rằng họ luôn chăm sóc và không bao giờ có ý làm
hại nó.
Khi Aaron dắt nó ra đường lên thị trấn, nó tỏ vẻ hơi ngạc nhiên.
Trước đây nó chưa bao giờ được dẫn đi theo hướng đó. Nó nhìn cậu dò xét, như
thể muốn hỏi, "Cậu đưa tôi đi đâu vậy?" Nhưng nó chợt nhận ra một con
dê thì không nên đặt những câu hỏi. Tuy nhiên, con đường đã khác đi. Chúng băng
qua những đám ruộng mới gặt, những đồng cỏ, và những căn nhà lá. Thỉnh thoảng
một con chó chạy theo chúng và sủa inh ỏi, nhưng Aaron dùng gậy đuổi đi.
Trời nắng đẹp khi Aaron rời làng. Nhưng thời tiết thay đổi thật
đột ngột. Một đám mây đen lớn với quầng xanh ở giữa xuất hiện phía đông và lan
nhanh trên bầu trời. Kèm theo đó là một cơn gió lạnh thổi tới. Lũ quạ bay là là
mặt đất, kêu ộp oạp. Lúc đầu, trời trông như thể sắp đổ mưa, nhưng thay vào đó
là một trận mưa đá như trong mùa hè. Mới sáng sớm mà trời tối đen như chạng
vạng. Sau trận mưa đá, tuyết bắt đầu rơi.
Đã mười hai tuổi, Aaron chứng kiến tất cả các kiểu thời tiết,
nhưng cậu chưa bao giờ trải qua một đợt tuyết rơi như thế này. Nó dày đặc đến
nỗi che khuất ánh sáng ban ngày. Trong chốc lát, con đường đã hoàn toàn bị
tuyết phủ kín. Gió lạnh căm. Con đường lên thị trấn hẹp và quanh co. Aaron thậm
chí không còn biết cậu đang ở chỗ nào. Cậu chẳng thể nhìn thấy gì qua lớp
tuyết. Hơi lạnh luồn vào áo khoác bông của cậu.
Lúc đầu Zlateh dường như không bận tâm đến sự thay đổi thời tiết.
Nó cũng mười hai tuổi và quá rành khí hậu mùa đông. Nhưng khi chân nó càng chìm
sâu hơn vào lớp tuyết, nó bắt đầu quay đầu nhìn Aaron kinh ngạc. Đôi mắt dịu
dàng dường như hỏi, "Tại sao chúng ta ra ngoài để mắc vào cơn bão như thế
này?" Còn Aaron thì mong sao gặp được một bác nông dân nào đó đi xe bò
ngang qua, nhưng chẳng có ai cả.
Tuyết trở nên dày hơn, rơi xuống mặt đất ngày một nhiều, bông
tuyết xoắn tít. Bên dưới lớp tuyết dày, ủng của Aaron chạm vào lớp đất mềm của
đám ruộng mới cày. Cậu nhận ra mình không còn trên con đường. Cậu đã bị lạc.
Cậu không còn phân biệt đâu là hướng đông đâu là hướng tây, đâu là hướng về
làng và đâu là hướng lên thị trấn. Gió thổi mạnh, rít lên, tuyết cuộn tròn như
những xoáy nước. Y hệt những bóng ma trắng toát chơi trò đuổi bắt trên đồng.
Một đám bụi trắng xoá bốc lên từ mặt đất làm Zlateh dừng lại. Nó không thể đi
được nữa. Nó bướng bỉnh bám móng chân vào mặt đất và kêu lên như thể cầu xin
được đưa về nhà. Những hạt băng đá treo lơ lửng trên bộ râu trắng, và sừng nó
lấp lánh sương giá.
Aaron không ngại hiểm nguy, nhưng cậu biết bọn chúng sẽ chết cóng
nếu không tìm được nơi trú ẩn. Đây không phải là cơn bão bình thường mà là một
trận bão tuyết dữ dội. Lớp tuyết đã dày tới đầu gối. Bàn tay cậu tê cứng, và
cậu không còn cảm giác nơi các ngón chân mình. Hơi thở nặng nhọc. Mũi cậu cứng
đơ như gỗ, và cậu phải xát tuyết vào nó. Zlateh cất giọng rên rỉ như muốn khóc.
Những người mà nó đã đặt rất nhiều niềm tin đã kéo nó vào một cái bẫy. Aaron
bắt đầu cầu Chúa phù hộ cho mình và con vật vô tội.
Đột nhiên, cậu nhìn thấy một ụ tuyết có hình thù như một ngọn đồi.
Cậu tự hỏi không biết nó là cái gì. Ai đã dồn tuyết thành một đống lớn như vậy
nhỉ? Cậu dắt Zlateh tiến về phía đó. Khi đến gần, cậu nhận ra rằng đó là một
đống cỏ khô lớn bị tuyết bao phủ.
Lập tức Aaron nhận ra chúng đã được cứu sống. Với nỗ lực tột cùng,
cậu đào một lối đi xuyên qua lớp tuyết. Là con nhà nông nên cậu biết phải làm
như thế nào. Khi chạm đến đống cỏ, cậu khoét một khoang rỗng vừa đủ chỗ cho cậu
và con dê. Cho dù bên ngoài trời lạnh thấu xương, phía trong đống cỏ luôn ấm
áp. Và cỏ khô còn là thức ăn cho Zlateh nữa. Ngay khi ngửi thấy mùi cỏ, nó trở
nên phấn chấn và bắt đầu ăn ngon lành. Bên ngoài tuyết vẫn tiếp tục rơi và
nhanh chóng phủ kín lối đi mà Aaron đã đào. Tuy vậy, cậu và con vật cần không
khí để thở nhưng hầu như không có bất kỳ tí không khí nào trong nơi ẩn náu của
chúng. Aaron khoét một cái lỗ thông hơi xuyên qua lớp cỏ khô và tuyết, cậu cẩn
thận giữ cho cái lỗ đó được thông suốt.
Sau khi đã no nê, Zlateh ngồi xuống trên hai chân sau và dường như
đã lấy lại tinh thần. Aaron ăn hai lát bánh mì kẹp pho mát, nhưng sau chuyến
hành trình đầy khó khăn, cậu vẫn còn đói. Cậu nhìn Zlateh và thấy vú nó căng
tròn. Cậu nằm xuống bên cạnh nó, chỉnh lại tư thế sao cho khi vắt sữa của nó
cậu có thể đễ dàng đưa vào miệng mình. Sữa dê thật là béo và ngọt. Zlateh không
quen với việc được vắt sữa theo cách này, nhưng nó không phản ứng. Ngược lại,
nó có vẻ háo hức để trả công cho Aaron vì đã đưa nó đến một nơi trú ẩn mà
tường, sàn, và trần đều được làm bằng thức ăn ưa thích của nó.
Qua lỗ thông hơi, Aaron có thể thấy lờ mờ sự hỗn độn bên ngoài.
Gió thổi cuốn toàn bụi tuyết. Trời tối mịt, và cậu không biết liệu đang là ban
đêm hay chỉ là bóng tối do cơn bão gây ra. Tạ ơn Chúa vì bên trong đống cỏ khô
trời không lạnh. Cỏ khô, cỏ tươi, và hoa dại tiết ra sự ấm áp của nắng hè.
Zlateh ăn luôn mồm, nó gặm bên trên, bên dưới, bên trái, bên phải của hang cỏ.
Cơ thể của nó toả hơi ấm của động vật và Aaron ôm ấp nó. Cậu luôn yêu quý
Zlateh, nhưng bây giờ nó giống như một người chị của cậu. Cậu chỉ có một mình,
mất liên lạc với gia đình, và cậu muốn trò chuyện. Cậu bắt đầu nói chuyện với
Zlateh. "Zlateh, mày nghĩ thế nào về những gì đã xảy ra với chúng
ta?" Cậu hỏi.
"Maaaa," Zlateh trả lời.
Aaron nói: "Nếu không tìm thấy đống cỏ khô này, chắc giờ cả
hai ta đã bị đông cứng cả rồi đấy".
"Maaaa," là câu trả lời của con dê.
"Nếu như tuyết vẫn cứ rơi mãi như thế này, chúng ta có thể
phải ở lại đây trong nhiều ngày," Aaron giải thích.
"Maaaa," Zlateh rên rỉ.
"'Maaaa' nghĩa là gì?" Aaron hỏi. "Mày nên nói rõ
ràng."
"Maaaa. Maaaa, "Zlateh vẫn cố gắng trả lời.
"Uh, mày thì cái gì cũng 'Maaaa' thôi," Aaron kiên nhẫn
nói. "Mày không thể nói, nhưng tao biết mày hiểu. Tao cần mày và mày cũng
cần tao. Đúng không? "
"Maaaa".
Aaron buồn ngủ. Cậu gom ít cỏ khô để làm một cái gối, gối đầu lên
đó và chợp mắt. Zlateh cũng thiếp đi.
Khi Aaron mở mắt, cậu không biết lúc này là ngày hay đêm. Tuyết đã
bịt kín lỗ thông hơi. Cậu cố thông lại nó, nhưng cậu đã khoét lút cả cánh tay
mình mà vẫn chưa thông ra được bên ngoài. May thay, cậu vẫn giữ cây gậy bên
mình và nó giúp cậu thông được cái lỗ. Trời bên ngoài vẫn tối đen như mực.
Tuyết tiếp tục rơi và gió vẫn rít, ban đầu là từng tiếng một và sau đó là nhiều
tiếng dồn dập. Đôi khi là những tiếng rền rất ma quái. Zlateh cũng tỉnh dậy, và
khi Aaron chào nó, nó trả lời: "Maaaa", ngôn ngữ của Zlateh chỉ mỗi
một từ, nhưng chứa đựng nhiều nghĩa. Giờ đây ý nó muốn nói, "Chúng ta phải
chấp nhận tất cả những gì Thượng đế ban cho - nóng, lạnh, đói, sướng, ánh sáng
và bóng tối."
Aaron đói cồn cào. Cậu đã ăn sạch đồ ăn mang theo, nhưng Zlateh có
nhiều sữa.
Aaron và Zlateh đã trú trong hang cỏ được ba ngày. Aaron luôn yêu
quý Zlateh, nhưng trong ba ngày này, cậu càng yêu nó hơn. Nó cho cậu sữa và
giúp cậu giữ ấm. Nó an ủi cậu với sự nhẫn nại. Cậu kể cho nó nghe rất nhiều
chuyện, và nó luôn vểnh tai lắng nghe. Khi cậu vỗ về nó, nó liếm bàn tay và
khuôn mặt cậu. Rồi nó kêu lên "Maaaa", và cậu biết điều đó có nghĩa
là “Tôi cũng yêu cậu”.
Tuyết đã rơi được ba ngày, mặc dù sau ngày đầu tiên, tuyết không
còn rơi dày đặc và gió đã yên hơn. Đôi khi Aaron cảm thấy rằng chưa từng có một
mùa hè, mà tuyết luôn rơi, kể từ lúc cậu có thể nhớ ra. Cậu, không bao giờ có
cha, mẹ hoặc các em gái. Cậu là một đứa trẻ tuyết, sinh ra bởi tuyết, và Zlateh
cũng vậy. Hang cỏ yên lặng đến nỗi tai cậu có thể cảm nhận rõ sự tĩnh mịch.
Aaron và Zlateh ngủ suốt đêm và những lúc có thể vào ban ngày. Những giấc mơ
của Aaron tràn ngập hình ảnh ấm áp. Cậu mơ thấy những cánh đồng xanh mơn mởn,
cây cối nở đầy hoa, những dòng suối trong trẻo và tiếng chim hót líu lo. Đến
đêm thứ ba tuyết ngừng rơi, nhưng Aaron không dám tìm đường về nhà trong đêm
tối. Bầu trời trở nên trong xanh và ánh trăng toả sáng như giăng lưới bạc trên
nền tuyết. Aaron đào lỗ chui ra ngoài và quan sát mọi vật. Toàn một màu trắng
toát, tĩnh mịch, mơ màng như những giấc mơ lộng lẫy tuyệt trần. Những ngôi sao
to và gần. Mặt trăng lơ lửng trên bầu trời như đang trôi trên mặt biển.
Vào sáng ngày thứ tư, Aaron nghe thấy tiếng chuông của xe trượt
tuyết. Hang cỏ cách không xa con đường. Bác nông dân lái xe trượt tuyết chỉ
đường cho cậu - không phải là đường lên thị trấn và nhà lão hàng thịt Feyvel mà
là đường về nhà trong làng. Khi trú trong hang cỏ Aaron đã quyết định cậu sẽ
không bao giờ rời xa Zlateh nữa.
Gia đình và hàng xóm của Aaron đã tìm kiếm cậu và con dê suốt cơn
bão nhưng chả thấy tung tích gì của chúng. Họ nghĩ chúng đã bị lạc. Mẹ và các
em gái Aaron khóc thương cậu, cha cậu cứ lặng im và rầu rĩ. Bỗng một người hàng
xóm chạy đến nhà họ báo tin rằng Aaron và Zlateh đang trên đường về.
Cả nhà vui mừng khôn xiết. Aaron kể với họ cậu tìm được đống cỏ
khô như thế nào và Zlateh đã nuôi cậu bằng sữa của nó ra sao. Mấy đứa em gái
Aaron hôn hít và ôm ấp Zlateh, bọn chúng chiêu đãi nó những món ăn thật đặc
biệt đó là cà rốt xắt nhỏ và khoai tây đã gọt vỏ, Zlateh ăn ngấu nghiến một
cách thèm khát.
Không ai nghĩ đến chuyện bán Zlateh nữa, và giờ đây cái lạnh cuối
cùng cũng tràn về, dân làng cần sự phục vụ của bác thợ da Reuven để giữ ấm. Khi
lễ Ánh sáng đến, mẹ Aaron có thể chiên bánh kếp mỗi tối, và Zlateh cũng được dự
phần. Mặc dù Zlateh có chuồng riêng, nó thường đến nhà bếp, dùng cặp sừng gõ
vào cửa để báo hiệu nó đã sẵn sàng vào nhà, và nó luôn được chào đón. Vào buổi
tối Aaron, Miriam và Anna chơi trò con quay. Zlateh ngồi cạnh bếp xem bọn trẻ
chơi và ngắm nhìn những ngọn nến Ánh sáng nhấp nháy.
Có lần Aaron chợt hỏi, "Zlateh, mày nhớ ba ngày mà chúng ta
đã ở bên nhau chứ?"
Và Zlateh đưa chiếc sừng khều khều vào cổ, hất chùm râu trắng về
phía trước và quay đi cùng với tiếng kêu duy nhất nhưng biểu lộ hết thảy suy
nghĩ và tình cảm của nó.
Ngô Thanh Tuấn dịch từ bản tiếng Anh "Zlateh the
Goat" của chính Tác giả và Elizabeth Shub
[1] Lễ Ánh sáng (Tiếng
Anh: Hanukkah- tiếng Hebrew: חנוכה) là một lễ hội truyền thống kéo dài tám ngày
của dân tộc Do Thái. Lễ hội bắt đầu vào ngày thứ 25 của tháng Kislev, vốn có
thể rơi vào bất kỳ lúc nào giữa tháng 11 đến cuối tháng 12. Đặc điểm nổi bật
của lễ hội là người dân sẽ thắp một ngọn đèn vào mỗi đêm của lễ hội, cho đến
đêm thứ 8 sẽ có 8 ngọn đèn được thắp sáng.
Phim "Zlateh
the Goat" của đạo diễn lừng danh Gene Deitch- cha đẻ
"Tom và Jerry"
Trẻ
em là độc giả tuyệt vời nhất của văn chương đích thực. Người lớn bị mê hoặc bởi
những tên tuổi lớn, những trích dẫn phóng đại, và những quảng cáo ấn tượng. Các
nhà phê bình, những người có mối liên hệ với xã hội học hơn là văn chương, đã
thuyết phục hàng triệu độc giả rằng nếu một câu chuyện không cố gắng mang lại
một cuộc cách mạng xã hội thì không có giá trị. Hàng trăm giáo sư, những người
chuyên viết bài giới thiệu sách, cố gắng làm cho học trò của mình tin rằng chỉ
những nhà văn cần nhiều lý giải phức tạp và vô số các chú thích mới đúng là
những thiên tài sáng tạo của thời đại chúng ta.
Nhưng
trẻ em không tin vào điều đó. Chúng vẫn cứ thích sự rõ ràng, hợp lý, thậm chí
các chi tiết lỗi thời như dấu chấm câu. Hơn nữa, độc giả nhỏ tuổi đòi hỏi một
câu chuyện có thật, với một khởi đầu, diễn biến và kết thúc, những câu chuyện
theo lối truyền thống đã được kể hàng ngàn năm nay.
Trong
thời đại chúng ta, khi kể chuyện đã trở thành một nghệ thuật bị xem thường và
được thay thế bởi xã hội học nghiệp dư và tâm lý học nhàm chán, trẻ em vẫn là
những độc giả độc lập không tin vào bất cứ điều gì ngoài cảm nhận của riêng
chúng. Tên tuổi và uy tín của nhà văn chả có ý nghĩa gì cả. Một thời gian dài
sau khi văn chương cho người lớn cáo chung, văn chương cho trẻ em sẽ được coi
là di sản cuối cùng của nghệ thuật kể chuyện, tính hợp lý, niềm tin vào gia
đình, vào Thượng đế và vào tính nhân bản đích thực.
Khi
tôi bắt tay vào viết một câu chuyện, đầu tiên tôi phải có một chủ đề hoặc đề
tài thiết thực. Ta không thể viết cho trẻ em những gì mà một số nhà phê bình
gọi là "một mảnh của cuộc sống." Thật ra cái gọi là những mảnh cuộc
sống là thứ chán phèo ngay cả đối với người lớn.
Tôi
cũng phải có một khao khát hoặc một cảm xúc thực sự để viết nên câu chuyện. Đôi
khi tôi có một chủ đề, nhưng tôi lại chẳng có động lực để triển khai nó. Tôi đã
liệt kê ra hàng trăm chủ đề mà tôi sẽ chẳng bao giờ sử dụng vì chúng thực sự
chả cuốn hút tôi.
Cuối
cùng, tôi phải có niềm xác tín - hoặc ít nhất là ảo tưởng - rằng chỉ có tôi mới
là người có thể viết nên câu chuyện đặc biệt này. Nó phải là câu chuyện của
riêng tôi. Nó phải thể hiện cá tính của tôi, nhân vật của tôi, thế giới quan
của tôi.
Nếu
hội đủ ba điều kiện trên, tôi sẽ viết một câu chuyện. Điều này đúng cả khi tôi
viết cho trẻ em hay viết cho người lớn.
Vài
cuốn sách tệ thiếu ba điều kiện này. Chúng chả có cốt truyện, chả có cảm xúc,
và cũng chả có mối liên hệ thực tế nào với tác giả.
Vì
trẻ em thích sự rõ ràng và hợp lý, bạn có thể lấy làm lạ là làm thế nào tôi có
thể viết về những chuyện thần bí, mà theo định nghĩa thì nó chả có bất cứ sự rõ
ràng và hợp lý nào cả. Tính hợp lý và "hiện thực chủ nghĩa", như là
một phương pháp văn chương, là hai điều khác nhau. Một người có thể là một thực
tế rất vô lý và một nhà thần bí rất hợp lý. Bản chất trẻ em là có xu hướng
thích những điều thần bí. Chúng tin vào Thượng đế, vào ma quỷ, vào điều thiện
và điều ác, và vào mọi loại phép thuật. Tuy nhiên, chúng đòi hỏi tính thống
nhất thực sự trong những câu chuyện này. Tính hợp lý thường rất cao trong tôn
giáo và có rất thấp trong chủ nghĩa duy vật. Thường thì những người cứ khăng
khăng rằng thế giới tự sinh ra thì không có bất kỳ sự tôn trọng nào vào lý trí.
Thật
bi kịch khi nhiều nhà văn coi thường những câu chuyện thần bí, lại cố viết
những thứ cho trẻ em mà thực ra chẳng có gì ngoài một mớ hổ lốn. Có những cuốn
sách cho trẻ em mà ý này chả ăn nhập gì với ý kia. Mọi thứ xảy ra một cách tùy
tiện và bừa bãi, chẳng có bất kỳ mối liên hệ nào với kinh nghiệm hay sự tưởng
tượng của trẻ em.
Những
trang viết như vậy chẳng những chả mang lại chút giải trí nào cho trẻ mà còn
làm tổn hại đến cách suy nghĩ của chúng. Đôi khi tôi có cảm giác rằng những
người được gọi là các tác giả tiên phong cho văn chương trẻ em đang cố gắng
chuẩn bị cho trẻ tiếp cận tác phẩm “Finnegan’s Wake” của James Joyce hoặc sa và
các trò chơi chữ nghĩa kiểu như vậy mà một vài vị các giáo sư quá say mê giảng
giải. Thay vì giúp chúng suy nghĩ, những trang viết như vậy làm què quặt tâm
hồn trẻ nhỏ. Do đó có thể nói- trong văn chương trẻ em thì sự thần bí là phải
có nhưng sự vô nghĩa thì không.
Văn
học dân gian đóng vai trò tối quan trọng trong văn chương cho trẻ em. Bi kịch
của văn chương người lớn hiện đại là nó hoàn toàn xa rời văn học dân gian.
Nhiều tác giả hiện đại đã hoàn toàn mất gốc. Họ không thuộc về và cũng không
muốn thuộc về bất kỳ trào lưu đặc biệt nào cả. Họ sợ bị gọi là những người thị
tộc chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa hoặc sô vanh chủ nghĩa.
Thực
ra không có văn chương mất gốc. Một người không thể viết truyện hay mà chỉ toàn
nói về con người chung chung. Trong văn chương, cũng như trong cuộc sống, tất
cả mọi thứ đều có đặc tính. Mỗi người đều có nơi chốn thực và nơi chốn trong
tâm thức của mình. Đúng là trong truyện ngụ ngôn không nhất thiết hoặc thậm chí
không cần phải có nơi chốn cụ thể, nhưng mọi loại văn chương ngoài ngụ ngôn thì
phải có. Một nhà văn càng bám rễ sâu vào môi trường sống của mình thì càng được
cảm nhận rộng rãi, càng mang tính dân tộc, và càng được phổ biến ra thế giới.
Khi
tôi bắt đầu viết những câu chuyện trong tập “Chú dê Zlateh”, tôi biết rằng
những câu chuyện này sẽ không chỉ được đọc bởi trẻ em Do Thái mà còn được đọc
bởi những người ngoài Do Thái nữa. Tôi kể về trẻ em Do Thái, những nhà hiền
triết Do Thái, những kẻ ngốc Do Thái, những chú rể Do Thái, những cô dâu Do
Thái. Các sự kiện liên quan không phải xảy ra ở một nơi vô định nào đó mà ở các
thị trấn và những ngôi làng nhỏ mà tôi biết rất rõ và là nơi tôi đã lớn lên.
Thánh thần của tôi là những vị thánh Do Thái và những con quỷ cũng là quỷ Do
Thái. Và cuốn sách này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Nhiều
cuốn sách dành cho trẻ em ngày nay không có màu sắc bản địa, không có sự quyến
rũ dân tộc. Các nhà văn cố gắng quốc tế hoá - để cho ra đời những trang viết
hấp dẫn mọi người - nhưng rồi chẳng đến được với ai. (Tiện thể xin nhắc đến
Kinh Thánh, đặc biệt là Sách Sáng Thế, nó tràn ngập những câu chuyện dành cho
trẻ em - tất cả chúng đều ngắn gọn, rõ ràng, bắt rễ sâu xa vào thời gian và
không gian. Điều này lý giải cho sự phổ biến rộng rãi của chúng.)
Nếu
không có văn học dân gian và sự bắt rễ sâu trong vùng đất cụ thể, văn chương sẽ
suy tàn và khô héo. Điều này đúng trong tất cả mọi nền văn chương ở mọi thời
đại. May thay, ngày nay văn chương cho trẻ em thậm chí còn bắt nguồn từ văn hóa
dân gian nhiều hơn so với văn chương cho người lớn. Và chỉ có điều này mới
khiến văn chương trẻ em trở nên quan trọng như thế trong thời đại chúng ta.
Một
số nhà văn viết sách, không phải vì họ yêu thích những câu chuyện, mà bởi họ
tâm đắc với thông điệp họ đưa ra trong tác phẩm. Không hề thiếu thông điệp
trong thời đại của chúng ta hoặc bất kỳ thời nào khác. Nếu tất cả các thông
điệp đều biến mất và chỉ còn lại Mười Điều Răn của Chúa, chúng ta vẫn sẽ có
những thông điệp đủ cho hiện tại và tương lai. Rắc rối của chúng ta không phải
là chúng ta không có đủ thông điệp mà chúng ta từ chối đưa ra và chuyển tải
chúng.
Nhà
văn viết một cuốn tiểu thuyết tệ mang thông điệp về hòa bình, công bằng và
những điều cao cả khác không làm chúng ta nhiệt tình hưởng ứng. Chúng ta đã
nghe những điều này trước đó và sẽ tiếp tục nghe về nó trong các bài xã luận
trên báo, trong những bài giảng, thậm chí từ các nhà ngoại giao của các quốc
gia hiếu chiến nhất. Có vô số các nhà văn mà chỉ đòi hỏi ở văn chương rằng họ
đúng và thông điệp của họ là chính đáng.
Văn
chương cần những câu chuyện được xây dựng tốt và sáng tạo, không phải là những
thông điệp cũ mèm, với mỗi một câu chuyện hay thì thông điệp mà nó mang đến,
mặc dù là không rõ ràng, thì sớm hay muộn cũng sẽ được các độc giả hoặc những
nhà phê bình nhận ra. Tôi chả biết thông điệp của Tolstoy trong “Chiến tranh và
Hòa bình”, nhưng đó là một cuốn sách tuyệt vời, chỉ cần như vậy. Một câu chuyện
đích thực có thể có nhiều cách diễn giải, vô số các thông điệp, hàng núi những
luận giải. Các sự kiện không bao giờ cũ, nhưng những nhận xét thường là cũ ngay
từ đầu.
Khi
còn nhỏ, tôi rất hạnh phúc khi được kể những câu chuyện giống nhau từ cha và
ông nội tôi. Bọn trẻ ở thời của tôi không được đọc những câu chuyện về vịt con
rơi vào ấm súp và nổi lên như ếch đất. Chúng tôi thích thú những câu chuyện về
Adam và Eva, nạn hồng thuỷ, những người xây Tháp Babel, các cuộc phiêu lưu kỳ
diệu của Abraham, Isaac, Jacob, Joseph. Chúng tôi được dạy không bao giờ phải
phó thác hoàn toàn vào đấng nào. Chúng tôi đã cố gắng tìm động cơ và tính nhất
quán trong các quy luật và những điều răn của Thiên Chúa. Tôi thường cảm thấy rất
nhiều tội lỗi diễn ra ngày nay là kết quả của những thứ suy đồi mà thế hệ hiện
đại đã đọc được khi còn trên ghế nhà trường.
Kể
từ khi tôi bắt đầu viết sách cho trẻ em tôi đã nói chuyện với nhiều trẻ em, đọc
cho chúng nghe những câu chuyện (mặc dù giọng của tôi còn lâu mới hoàn hảo), và
trả lời hàng trăm câu hỏi của chúng. Tôi luôn luôn kinh ngạc khi thấy rằng khi
đề cập đến việc đặt câu hỏi, trẻ em cũng có cùng một sự tò mò như người lớn:
Làm thế nào ông có được ý tưởng cho một cuốn sách? Ông tưởng tượng hay lấy từ
cuộc sống? Ông viết một cuốn sách hết bao lâu? Ông có dùng những câu chuyện mà
cha mẹ ông đã kể với ông không?
Bất
kể lớn nhỏ, trẻ em có mối liên hệ sâu sắc với cái gọi là những câu hỏi bất tận:
Ai đã tạo ra thế giới? Ai đã tạo ra trái đất, bầu trời, con người, muôn thú?
Trẻ em không thể hình dung được khởi đầu hoặc kết thúc của thời gian và không
gian. Khi còn bé tôi đã đặt mọi câu hỏi mà sau này tôi đã tìm thấy những luận
giải trong các tác phẩm của Plato, Aristotle, Spinoza, Leibnitz, Hume, Kant, và
Schopenhauer. Trẻ em suy nghĩ và suy tư về những vấn đề như công bằng, mục đích
sống, nguyên nhân đau khổ. Chúng thường cảm thấy khó chấp nhận ý nghĩ rằng thú
vật được giết mổ để làm thức ăn cho con người. Chúng hoang mang và sợ hãi cái
chết. Chúng không thể chấp nhận thực tế là kẻ mạnh thống trị kẻ yếu.
Nhiều
người lớn cho rằng chẳng có mục đích gì khi đặt những câu hỏi và ta nên chấp
nhận sự thật như chúng hẳn thế. Tuy nhiên, trẻ em thường là một triết gia và
một người kiếm tìm Thượng đế. Đây là một trong những lý do tôi luôn luôn đề
nghị chúng đọc Kinh Thánh. Kinh Thánh không trả lời mọi câu hỏi, nhưng nó giúp
giải đáp những câu hỏi. Nó cho chúng ta biết rằng có một Thiên Chúa, Đấng tạo
ra trời đất. Nó lên án Cain giết Abel. Nó cho chúng ta biết kẻ ác bị trừng phạt
và những người tốt, mặc dù có thể trải qua nhiều đau khổ, thì được tưởng thưởng
và yêu mến bởi Đấng Toàn Năng.
Nếu
có điều kiện, tôi sẽ xuất bản một cuốn sách về lịch sử triết học cho trẻ em,
qua đó tôi sẽ truyền đạt những ý tưởng cơ bản của tất cả các triết gia với ngôn
ngữ đơn giản. Trẻ em, những người cực kỳ nghiêm túc, sẽ đọc cuốn sách này với
sự thích thú cao độ. Trong thời đại của chúng ta, khi văn chương cho người lớn
trở nên xấu xa, những cuốn sách hay cho trẻ em là hy vọng và nơi trú ẩn duy
nhất. Nhiều người lớn đọc và thưởng thức những cuốn sách cho trẻ em. Chúng tôi
viết không chỉ cho trẻ em mà còn cho các bậc cha mẹ của chúng nữa. Họ cũng là
những đứa trẻ nghiêm túc.
Ngô Thanh Tuấn Dịch
từ “Are Children the Ultimate Literary Critics?”
Một đêm, sau khi lo xong đám
tang, tôi nằm mơ màng trên những bao bột, lão Ác Thần hiện ra và bảo,
"Gimpel, sao ông lại ngủ?"
Tôi nói, "Thế giờ tôi
phải làm gì? Ăn kreplech[i]
chắc?"
"Cả thiên hạ lừa
ông," lão ta nói, "giờ đến lượt ông phải lừa lại họ."
"Làm thế nào tôi lừa được
cả thiên hạ?" Tôi hỏi lão.
Lão đáp, "Mỗi ngày ông
gom một xô nước tiểu rồi tối đến đổ nó vào bột làm bánh. Hãy để những nhà hiền
triết của Frampol thưởng thức thứ dơ bẩn đó."
"Thế còn sự trừng phạt
trong kiếp sau thì sao?" Tôi nói.
"Chẳng có kiếp sau nào
hết", lão nói. "Bọn họ lừa ông rồi bảo ông phải tin rằng đó là sự
thật. Quá vô lý!"
"Vậy thì," Tôi nói,
"có Chúa không?"
Lão trả lời, "Cũng chẳng
có Chúa."
"Sao cơ", tôi nói,
"thế thì có gì trên đó?"
"Một vũng bùn đặc sệt.”
Lão đứng trước mặt tôi với bộ
râu dê và cặp sừng, nhe nanh, và thêm cái đuôi nữa. Nghe lão nói thế tôi muốn
tóm lấy cái đuôi của lão, nhưng tôi rơi tòm khỏi đám bao bột và suýt trẹo xương
sườn. Chuyện tiếp theo là tôi phải đáp lại tiếng gọi của bản năng, và khi đi
ngang qua, tôi thấy đám bột nhào dường như nói với tôi, "Hãy làm đi!"
Cuối cùng, tôi cũng bị thuyết phục.
Rạng sáng, người học việc đến.
Chúng tôi nhào bánh mì, rải hạt carum lên rồi cho vào lò. Sau đấy, người học
việc bỏ ra ngoài, chỉ còn mình tôi ngồi trong rãnh nhỏ cạnh lò, trên một đống
giẻ rách. Ừ, Gimpel, tôi nghĩ, thế là mày đã trả thù bọn họ vì tất cả những tủi
hổ họ đã gây ra cho mày. Bên ngoài sương giá lấp lánh, nhưng bên lò rất ấm.
Ngọn lửa làm mặt tôi nóng lên. Tôi gục đầu và rơi vào giấc ngủ chập chờn.
Tức thì, tôi thấy trong mơ,
Elka trong tấm vải liệm. Cô ấy bảo tôi, “Ông đã làm gì thế, Gimpel?"
Tôi nói, "Tất cả là lỗi
của bà", và bắt đầu nức nở.
"Ngốc ạ", cô nói.
"Ông thật là ngốc! Chẳng lẽ vì tôi đã phạm sai lầm thì mọi thứ đều sai lầm
ư? Tôi chưa hề lừa dối ai, ngoài chính bản thân mình. Tôi đang phải trả giá cho
tất cả những điều đó, Gimpel. Họ sẽ không tha cho ông đâu."
Tôi nhìn khuôn mặt cô. Nó đen
sì; Tôi giật mình tỉnh giấc, ngồi thẫn thờ câm lặng. Tôi thấy tất cả mọi sự đều
công bằng. Một bước sai lầm bây giờ và tôi sẽ đánh mất sự sống vĩnh hằng. Nhưng
Chúa đã ban ơn cho tôi. Tôi vớ lấy cái xẻng dài và xúc hết chỗ bánh mì, đem ra
sân, rồi bắt đầu đào một cái hố trên nền đất lạnh.
Người học việc của tôi quay
lại khi tôi đang đào hố. "Ông làm gì vậy ông chủ?", Anh ta nói, mặt
tái nhợt như xác chết.
"Mặc kệ tôi," tôi
đáp, và chôn hết chỗ bánh trước cặp mắt kinh ngạc của anh ta.
Sau đó, tôi trở về nhà, lấy
toàn bộ của cải dành dụm được ra khỏi chỗ giấu và chia cho các con, "Bố đã
thấy mẹ của các con tối nay," tôi nói, "Bà ấy biến thành thứ đen sì
và xấu xí."
Bọn chúng kinh ngạc đến mức
không thốt nên lời.
"Hãy sống tốt," Tôi
nói, "và hãy quên đi, coi như chưa từng có lão Gimpel trên cõi đời
này." Tôi khoát áo choàng ngắn, xỏ giày, một tay đeo túi đựng khăn choàng
cầu nguyện, tay kia mang đồ ăn đi đường, và hôn lên mezuzah[ii]. Khi mọi
người nhìn thấy tôi trên đường, họ rất ngạc nhiên.
"Ông đi đâu đấy?",
Họ nói.
Tôi đáp, "đi vào cõi thế."
Và thế là tôi rời khỏi Frampol.
Tôi lang thang qua nhiều vùng
đất, và những người tốt đã không bỏ rơi tôi. Sau nhiều năm ròng, tôi trở nên
già nua, râu tóc bạc phơ; tôi nghe được nhiều điều hay, cả nhiều điều dối trá lẫn
sai lầm, nhưng càng sống lâu tôi càng ngộ ra rằng thực ra chẳng có gì là dối
trá. Điều gì không thực sự xảy ra thì ban đêm sẽ mơ thấy. Nếu không xảy ra với
người này thì xảy ra với người khác, vào ngày mai nếu như không phải hôm nay,
hoặc vào thế kỷ sau nếu như không phải sang năm. Có gì khác nào? Thường thì khi
nghe những câu chuyện như thế tôi nói, "Bây giờ thì chuyện ấy không xảy
ra" Nhưng trước đó một năm, tôi có nghe nó thực sự xảy ra ở đâu đó.
Đi hết nơi này qua chốn nọ, ngồi
ăn bên những bàn ăn xa lạ, điều tôi thường làm là bịa chuyện - những điều không
có thực mà có lẽ chẳng bao giờ xảy ra - về ma quỷ, tà thuật, cối xay gió, và những
điều tương tự. Bọn trẻ chạy theo gọi tôi, "Ông ơi, kể chuyện cho chúng cháu
nghe đi". Đôi khi bọn chúng đòi kể một câu chuyện đặc biệt, và tôi cố làm vui
lòng chúng. Một thằng bé múp míp có lần bảo tôi: "Ông ơi, chuyện này giống
chuyện ông đã kể trước đây rồi" thằng ranh, nó nói đúng.
Và những giấc mơ cũng thế. Tôi
đã rời Frampol nhiều năm rồi, nhưng mỗi khi nhắm mắt lại, tôi như quay về nơi đó.
Và bạn biết tôi thấy ai không? Elka, Cô ấy đứng cạnh bồn rửa, y hệt lần đầu
chúng tôi gặp gỡ, nhưng khuôn mặt sáng ngời và đôi mắt rạng rỡ như một thiên
thần, và cô nói với tôi những lời lạ lùng, những điều kỳ lạ. Khi thức dậy tôi
quên tuốt. Nhưng trong mơ thấy khuây khoả. Cô trả lời mọi thắc mắc của tôi, và
những gì xảy ra thì đúng y như vậy. Tôi khóc lóc van nài, "Hãy cho tôi theo
bà." Cô an ủi tôi và bảo tôi phải kiên nhẫn. Thời gian sẽ trôi nhanh hơn
độ dài của nó. Đôi khi cô vuốt ve, hôn và nhỏ lệ trên mặt tôi. Khi thức dậy tôi
còn cảm nhận được đôi môi cô cùng vị mặn của nước mắt.
Không nghi ngờ gì nữa thế giới
này hoàn toàn là cõi mộng, nhưng nó chỉ đi ra từ cõi thực. Tại ngưỡng cửa căn
nhà tồi tàn nơi tôi nằm có dựng sẵn những tấm ván hòm. Người đào huyệt Do Thái đã
sẵn sàng cuốc xẻng. Huyệt mộ cùng lũ giun đói đang chờ đợi, tôi đã chuẩn bị những
tấm vải liệm trong cái túi hành khất của mình. Một gã ăn mày đang chờ để kế
thừa ổ rơm của tôi. Khi đúng thời điểm, tôi sẽ ra đi thanh thản. Bất cứ thứ gì hiện
diện ở cõi ấy đều là thật, không phức tạp, không nhạo báng, không dối trá. Tạ
ơn Chúa: ở đó ngay cả Gimpel cũng không thể bị dối lừa.
Ngô Thanh Tuấn dịch từ bản tiếng Anh “Gimpel the Fool” của Saul Bellow
[i]
kreplach: Là món ăn của người Do Thái dạng bánh bao nhỏ nhồi thịt, khoai tây
nghiền hay những nguyên liệu khác, thường được ăn nóng cùng với súp gà.
[ii]
mezuzah : là một mảnh da treo ở cửa nhà được ghi câu kinh thánh Torah bằng
tiếng Do Thái (thường dùng để trang trí).