Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Anatole France- Tuổi thơ nơi thành thị và thôn quê

Anatole France (16/04/1844 - 12/10/1924) là nhà thơ, nhà báo và tiểu thuyết gia Pháp. Ông sinh tại Paris, và qua đời tại Saint-Cyr-sur-Loire, ông được xem là một trong những tên tuổi lớn của văn học Pháp giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Anatole France còn là thành viên của Viện Hàn lâm Pháp và được trao giải Nobel Văn học năm 1921 để ghi nhận những thành tựu văn chương của ông. Trong những năm 1920 tác phẩm của A. France bị đưa vào Danh mục Sách Cấm của Giáo Hội Công Giáo La Mã.
A. France có nhiều sáng tác cho thiếu nhi tiêu biểu như “Le Livre de mon ami” (Sách của bạn tôi, 1885), “Les Contes de Jacques Tournebroche” (Những mẩu chuyện của Jacques Tournebroche, 1908), “Les Sept Femmes de Barbe bleue et autres contes merveilleux” (Bảy bà vợ của ông Barbe và những câu chuyện kỳ lạ khác, 1909),… Dưới đây là tập “Nos enfants Scènes de la Ville et des Champs” (Tuổi thơ nơi thành thị và thôn quê, 1909) được dịch qua bản Tiếng Anh “Child Life In Town And Country 1909” của Alfred Allinson.
MỤC LỤC
Fanchon I
Fanchon II
Fanchon III
Fanchon IV
Vũ hội hóa trang
Trường học
Marie
Những chiếc kèn
Chú ngựa giống của Roger
Lòng can đảm
Ở nhà Catherine
Những chú hải cẩu nhỏ
Khỏi bệnh
Băng qua những đồng cỏ
Cuộc diễu hành
Những chiếc lá khô
Suzanne
Câu cá
Hình phạt của lòng cao thượng
Bữa tiệc của bọn trẻ

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Isaac Bashevis Singer- Giấc mơ của của cậu bé Menaseh


Menaseh là một cậu bé mồ côi. Cậu sống với chú Mendel, một người thợ kiếng nghèo và thậm chí không thể lo nổi ăn mặc cho những đứa con của mình. Menaseh đã học xong tiểu học và sau kỳ nghỉ thu là cậu phải đến học nghề chỗ một bác thợ đóng sách.
Menaseh luôn là một đứa trẻ tò mò. Cậu bắt đầu đặt câu hỏi ngay khi vừa biết nói: "Bầu trời cao ra sao?”, “Lòng đất sâu thế nào?", “Bên kia thế giới là gì?”. “Tại sao mọi người được sinh ra?”, “Tại sao họ chết đi?”
Đó là một ngày hè nóng nực và ẩm ướt. Một đám sương mù vàng choé quét qua làng. Mặt trời nhỏ xíu như một mặt trăng và ửng vàng như đồng thau. Lũ chó vừa ngảy cẫng vừa ngoe ngoẩy đuôi. Bầy bồ câu thư thả nghỉ ngơi giữa khu chợ. Mấy chú dê nép mình dưới mái hiên của những túp lều, nhai đi nhai lại mớ cỏ và lắc lư chòm râu.
Menaseh cãi nhau với thím Dvosha và bỏ nhà đi mà chẳng về ăn trưa, cậu khoảng mười hai tuổi, khuôn mặt hơi dài, đôi mắt đen, má lúm. Cậu mặc một chiếc áo khoác rách và đi chân trần. Vật sở hữu duy nhất của cậu là một cuốn truyện cũ nát mà cậu đã đọc đi đọc lại nhiều lần. Đó là cuốn “Một mình giữa rừng hoang”. Ngôi làng nơi cậu sống nằm giữa một khu rừng bao quanh nó như một vành khăn và người ta bảo rằng nó kéo dài đến tận Lublin. Giờ đang là mùa việt quất và đây đó người ta cũng có thể tìm thấy dâu dại. Menaseh tìm đường băng qua các đồng cỏ và cánh đồng lúa mì. Cậu đói và cậu nhổ một cây lúa mì để nhai hạt. Trên bãi cỏ, lũ bò nằm dài, trời quá nóng đến nỗi thậm chí chúng chẳng buồn phe phẩy đuôi để đuổi ruồi nữa. Hai con ngựa đứng tư lự, đầu con này kề sát mông con kia. Trên một cánh đồng trồng kiều mạch, cậu bé ngạc nhiên khi thấy một con quạ đậu trên chiếc mũ rách của một hình nộm.
Khi Menaseh vào rừng, trời mát mẻ. Những cây thông vươn thẳng như những cây cột và trên lớp vỏ nâu của chúng treo lủng lẳng những chiếc vòng  vàng, ánh nắng rọi qua kẽ lá thông, cậu nghe thấy tiếng chim cu và gõ kiến, và một con chim vô hình cứ lặp đi lặp lại cùng một tiếng rít kỳ quái.
Menaseh bước cẩn thận trên những tấm thảm rêu. Cậu lội qua một con suối cạn với tiếng róc rách len qua sỏi đá nghe rất vui tai. Khu rừng vẫn dày đặc và đầy những âm thanh vọng lại.
Cậu lang thang sâu hơn vào khu rừng. Theo lệ thường, cậu phải để lại đá làm dấu phía sau, nhưng hôm nay thì không. Cậu đơn độc, nhức đầu và cảm thấy chồn gối. “Mình bị ốm rồi chăng?" Cậu nghĩ. "Có lẽ mình sẽ chết. Lúc đó mình sẽ sớm được gặp Bố Mẹ”. Khi cậu đến một đám cây việt quất, cậu ngồi xuống, hái từng quả và cho vào miệng. Nhưng chúng không làm thỏa mãn cơn đói của cậu. Những loài hoa với hương say nồng mọc xen lẫn trong đám việt quất, không nhận ra điều đó, Menaseh nằm dài trên nền rừng. Cậu ngủ thiếp đi, nhưng trong giấc mơ, cậu tiếp tục bước đi.
Cây cối thậm chí trở nên cao hơn, hương thơm ngào ngạt hơn, những chú chim lớn chuyền từ cành này sang cành kia. Mặt trời đang lặn. Rừng trở nên thưa hơn và cậu nhanh chóng tiến đến trên một vùng đồng bằng quang đãng dưới bầu trời chiều. Đột nhiên một lâu đài xuất hiện dưới ánh hoàng hôn. Menaseh chưa bao giờ thấy một kiến trúc đẹp như vậy. Mái của nó được phủ toàn bạc và từ đó mọc lên một một ngọn tháp bằng pha lê. Nhiều cửa sổ cao ngang chiều cao tòa nhà. Menaseh tiến đến một trong các cửa sổ và nhìn vào bên trong. Trên bức tường trước mặt, cậu nhìn thấy chân dung của chính cậu treo ở đó. Trong hình cậu mặc bộ quần áo sang trọng mà cậu chưa bao giờ có được, căn phòng lớn trống trơn.
"Sao lâu đài trống trơn thế nhỉ?" Cậu tự hỏi. "Và sao bức chân dung của mình lại treo trên tường?" Cậu bé trong bức ảnh dường như vẫn sống như người thật và nóng lòng chờ đợi ai đó. Rồi những cánh cửa mở toang ra từ nơi mà trước đó chẳng có gì, và nhiều đàn ông và phụ nữ đi vào phòng. Họ mặc áo sa tanh trắng, phụ nữ thì đeo trang sức và cầm sách lễ với bìa dập nổi chữ vàng. Menaseh nhìn chằm chằm kinh ngạc. Cậu nhận ra bố, mẹ, ông, bà và những người thân khác của cậu. Cậu muốn nhào tới chỗ họ, ôm và hôn họ, nhưng tấm kính cửa sổ ngăn cậu lại. Cậu oà khóc. Ông nội cậu, nhà thông thái Tobias, tách khỏi đám đông và đến bên cửa sổ, bộ râu của ông trắng tinh như áo khoác dài ông đang mặc. Ông cao tuổi nhưng trông rất trẻ trung. "Tại sao cháu khóc?" ông hỏi. Mặc dù lớp kính ngăn cách họ, Menaseh nghe ông nói rất rõ.
“Ông là ông nội Tobias của cháu ư?”
"Ừ, cháu của ta. Ta là ông nội của cháu đây.”
“Lâu đài này thuộc về ai?"
"Thuộc về tất cả chúng ta.”
"Cả cháu nữa ư? '
“Tất nhiên, cả gia đình ta.”
“Ông nội, hãy cho cháu vào,”' Menaseh gọi. "Cháu muốn gặp bố mẹ cháu.”
Ông nội cậu âu yếm nhìn cậu và nói: "Rồi một ngày nào đó cháu sẽ sống với chúng ta ở đây nhưng ngày đó chưa đến.”
"Cháu phải chờ đợi bao lâu?"
"Đó là một bí mật, nó sẽ đến trong nhiều năm, nhiều năm nữa.”
“Ông nội, cháu không muốn phải chờ đợi quá lâu. Cháu đói, khát và mệt nữa. Xin hãy cho cháu vào. Cháu nhớ bố, mẹ, ông, bà. Cháu không muốn là trẻ mồ côi."
“Cháu yêu quý của ta. Chúng ta biết tất cả. Chúng ta luôn nghĩ về cháu và yêu quý cháu. Tất cả chúng ta đang chờ đợi đến lúc chúng ta sẽ ở cùng nhau, nhưng cháu phải kiên nhẫn. Cháu còn cả một cuộc hành trình dài trước khi đến ở đây.”
"Thôi mà, cho cháu vài phút thôi,”

Ông nội Tobias rời khỏi cửa sổ và thì thầm với các thành viên khác trong gia đình. Khi quay lại, ông nói: "Cháu có thể vào, nhưng chỉ một lát thôi. Chúng ta sẽ cho cháu dạo một vòng quanh lâu đài và chỉ cháu xem mấy kho báu của chúng ta, nhưng sau đó cháu phải rời khỏi đây.”
Một cánh cửa mở ra và Menaseh bước vào. Vừa mới bước qua ngưỡng thì cơn đói và sự mệt mỏi của cậu biến mất. Cậu ôm ghì lấy bố mẹ và họ hôn và ôm lấy cậu. Nhưng họ tuyệt nhiên không nói một lời nào. Cậu cảm thấy một nguồn sáng kỳ lạ. Cậu đã lướt đi cùng với gia đình cậu. Ông nội cậu mở hết cửa này đến cửa khác và mỗi lần ông mở cửa là mỗi lần Menaseh thêm ngạc nhiên hơn.
Một căn phòng xếp đầy các kệ áo quần con trai- nào là áo jacket, áo sơ mi, áo khoác. Menaseh nhận ra những bộ áo quần cậu đã mặc lâu lắm rồi mà cậu không thể nhớ. Cậu cũng nhận ra giày, vớ, mũ, và áo ngủ của cậu nữa.
Cánh cửa thứ hai mở ra và cậu nhìn thấy tất cả những đồ chơi mà cậu đã từng có: những chú lính chì bố cậu đã mua cho cậu; chú hề nhảy mẹ cậu đã mang về từ hội chợ ở Lublin; còi và kèn harmonica; gấu bông ông nội tặng cậu trong một dịp lễ Purim và con ngựa gỗ là món quà của bà nội Sprintze nhân ngày sinh nhật thứ sáu của cậu. Những cuốn vở cậu đã dùng để tập viết chữ, bút chì và Kinh Thánh của cậu nằm trên bàn. Kinh Thánh đã được mở sẵn ra ngay tại trang tiêu đề, với hình khắc quen thuộc ông Moses cầm các bản kinh thánh gỗ cùng ông Aaron trong chiếc áo thầy tu, hình ảnh cả hai được bao quanh bởi một đường viền là hình các thiên thần sáu cánh. Cậu thấy tên mình ghi nơi để viết tên.
Menaseh không kìm được sự kinh ngạc khi cánh cửa thứ ba mở ra. Căn phòng này chứa đầy bong bóng xà phòng. Chúng không bị vỡ tung như bong bóng xà phòng mà lửng lờ trôi, phản chiếu những sắc cầu vồng. Vài chiếc bong bóng phản chiếu hình ảnh những lâu đài, những khu vườn, những dòng sông, những chiếc cối xay gió, và nhiều cảnh đẹp khác. Menaseh biết đây là những bong bóng mà cậu thường thổi từ chiếc ống bong bóng yêu thích của mình. Bây giờ dường như chúng có đời sống riêng của mình.
Cánh cửa thứ tư mở ra. Menaseh bước vào một căn phòng trống không, nhưng đầy ắp những tiếng chuyện trò, những bài hát, và tiếng cười hạnh phúc. Menaseh nghe giọng nói của chính mình và những bài hát mà cậu thường hát khi còn sống cùng với bố mẹ ở nhà. Cậu cũng nghe giọng nói của những người bạn cũ của mình, vài người cậu đã quên bẵng từ rất lâu.
Cánh cửa thứ năm dẫn đến một hội trường lớn. Bên trong đầy những nhân vật trong các câu chuyện mà bố mẹ thường kể cho cậu nghe trước khi đi ngủ. Và còn những vị anh hùng trong câu chuyện “Một mình giữa rừng hoang” của cậu nữa. Tất cả họ đều hiện diện: Chiến binh David và nàng công chúa Ethiopia, người mà David cứu thoát khỏi nơi giam cầm; tay trộm Bandurek, người đã trộm của người giàu và phân phát cho người nghèo; Velikan khổng lồ, người có một mắt ở giữa trán và mang một quyền trượng được làm từ cây linh sam bên tay phải và một con rắn bên tay trái; tên lùn Pitzeles, có bộ râu kéo lê dưới đất và chuyên pha trò cho vị vua đáng sợ Merodach; và pháp sư hai đầu Malkizedek, kẻ đã dùng phép phù thủy để dụ dỗ những cô gái đáng thương vào sa mạc Sodom và Gomorrah.
Menaseh hầu như không có thời gian để xem hết bọn họ khi cánh cửa thứ sáu mở ra. Ở đây mọi thứ đều liên tục biến hình. Các bức tường của căn phòng quay như chóng chóng. Những hình ảnh lóe lên rồi từ một con ngựa bằng vàng đã biến thành một con bướm màu xanh, một bông hồng lấp lánh như ánh mặt trời biến thành một chiếc cốc với đầy châu chấu lửa, những vị thần nông màu tía và những chú dơi màu bạc bay lượn. Vua Solomon ngồi trên ngai vàng lấp lánh dẫn lên bởi bảy bậc cấp, ngài giống Menaseh như tạc, ngài đội một chiếc vương miện và quỳ dưới chân ngài là Nữ hoàng Sheba. Một con công xòe đuôi và nói với vua Solomon bằng tiếng Do Thái, mấy thầy tu Levites chơi đàn lia. Những người khổng lồ khua kiếm trên không còn những nô lệ Ethiopia cưỡi sư tử rót rượu và phục vụ những khay chứa đầy quả lựu. Trong giây lát Menaseh không hiểu tất cả những điều này có nghĩa là gì. Rồi cậu nhận ra rằng cậu đang trong mơ.
Đằng sau cánh cửa thứ bảy, Menaseh thoáng nhìn thấy nhiều đàn ông, phụ nữ, động vật, và nhiều thứ hoàn toàn xa lạ với cậu. Các hình ảnh không còn sống động như ở các căn phòng khác. Những hình thù trong suốt và được bao phủ bởi lớp sương mù. Một cô bé trạc tuổi Menaseh đứng trên ngưỡng cửa. Tóc cô thắt bím dài màu vàng. Mặc dù không thể nhìn rõ cô bé nhưng Menaseh thích cô bé ngay lập tức. Lần đầu tiên cậu quay sang ông nội và hỏi “Tất cả những điều này là gì?". Và ông nội cậu trả lời: "Đây là những con người và những sự việc cháu sẽ gặp trong tương lai.”
“Cháu đang ở đâu?” Menaseh hỏi.
“Cháu đang ở trong một lâu đài có nhiều tên gọi. Chúng ta muốn gọi nó là nơi mà chẳng có gì để mất. Còn nhiều điều kỳ lạ hơn nữa ở đây, nhưng bây giờ đã đến lúc cháu phải đi rồi.”
Menaseh muốn nán lại nơi xa lạ này mãi mãi, cùng bố mẹ và ông bà mình. Cậu nhìn ông nội như dò hỏi, nhưng người lắc đầu. Dường như bố mẹ Menaseh vừa muốn cậu ở lại vừa muốn cậu rời đi càng nhanh càng tốt. Họ vẫn không nói gì, nhưng ra hiệu cho cậu, và Menaseh hiểu rằng cậu đang gặp nguy hiểm lớn. Đây có lẽ là một nơi bị cấm. Bố mẹ cậu lặng lẽ chào từ biệt cậu và mặt cậu trở nên ẩm ướt và nóng bừng vì những nụ hôn của họ. Lập tức mọi thứ biến mất- lâu đài, bố mẹ, ông bà, cô gái.
Menaseh giật mình tỉnh giấc. Lúc này khu rừng đã về đêm. Sương đang rơi. Cao cao phía trên ngọn cây thông, mặt trăng tròn tỏa sáng và sao trời lấp lánh. Menaseh trông thấy khuôn mặt một cô bé đang cúi xuống bên cậu. Cô bé đi chân đất và mặc một chiếc váy vá chằng chịt, bím tóc dài của cô bé tỏa sáng vàng rực dưới ánh trăng. Cô bé lắc cậu và bảo: “Dậy đi, dậy đi. Muộn rồi và cậu không thể ở lại trong rừng được đâu.”
Menaseh ngồi dậy. “Cậu là ai?”
“Mình đang đi tìm quả chín và nhìn thấy cậu ở đây, mình đã cố đánh thức cậu.”
“Cậu tên gì? "
“Channeleh, gia đình mình mới chuyển đến làng này tuần trước.”
Cô bé trông rất quen, nhưng cậu không thể nhớ là đã gặp cô ấy trước kia hay chưa. Rồi đột nhiên cậu nhận ra. Đó là cô bé mà cậu đã nhìn thấy trong căn phòng thứ bảy, trước khi tỉnh dậy.
“Cậu nằm bất động như chết. Mình đã rất sợ khi nhìn thấy cậu. Cậu đang mơ à? Mặt cậu trông rất nhợt nhạt còn môi thì cứ mấp máy.”
“Vâng, mình đã có một giấc mơ ".
“Mơ gì thế?”
“Một tòa lâu đài.”
"Lâu đài nào vậy? '
Menaseh không trả lời và cô bé cũng không nhắc lại câu hỏi. Cô chìa tay về phía cậu và giúp cậu đứng dậy. Chúng cùng đi về nhà. Dường như chưa bao giờ mặt trăng sáng tỏ và những ngôi sao lại gần đến vậy. Chúng bước đi, bóng ngả về phía sau. Lũ dế cất tiếng rỉ rả. Bọn ếch ộp ộp như tiếng người.
Menaseh biết rằng chú cậu sẽ nổi giận với cậu vì về muộn. Thím sẽ mắng cậu vì đã bỏ nhà đi mà không ăn trưa. Nhưng những điều này chả còn quan trọng nữa. Trong giấc mơ của mình, cậu đã đến thăm một thế giới thật kỳ bí. Cậu đã tìm được một người bạn, đó là Channeleh và cậu quyết định sẽ đi hái quả chín vào ngày hôm sau.
Giữa các bụi cây và nấm dại, những người tí hon khoác áo đỏ, đội mũ vàng và mang giày xanh lá hiện ra. Họ nhảy múa trong vòng tròn và hát một bài hát mà chỉ được nghe thấy bởi những ai biết rằng mọi thứ vẫn sống và không có điều gì mất đi bao giờ.
Ngô Thanh Tuấn Dịch từ bản tiếng Anh "Menaseh’s Dream" của Tác giả và Elizabeth Shub

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Isaac Bashevis Singer- Chú dê Zlateh


Isaac Bashevis Singer chủ yếu viết bằng tiếng Yiddish (tiếng Đức cổ của người Do Thái). Trong Diễn từ nhận giải Nobel (năm 1978), I.B. Singer coi việc tặng giải cho ông là "sự thừa nhận đối với ngôn ngữ Yiddish - thứ ngôn ngữ của lưu đầy, không đất đai, không biên thùy, không chính quyền nào ủng hộ, một ngôn ngữ không có từ nào để nói về vũ khí, vũ trang, tập quân sự, thuật chiến tranh, cái ngôn ngữ bị khinh rẻ bởi cả những người không phải Do Thái lẫn những người Do Thái đã thoát khỏi gông xiềng"... Các nhà phê bình có những đánh giá khác nhau về I.B. Singer, nhưng ông được coi là một người kể chuyện tài hoa, hấp dẫn.
Năm 1970 ông nhận giải thưởng sách Quốc gia Hoa Kỳ (National Book Awards) với cuốn hồi kí viết cho trẻ em “A day of pleasure: Stories of a Boy Growing Up in Warsaw” (tạm dịch: “Ngày hạnh phúc: những mẩu chuyện về cậu bé lớn lên ở Warsaw”). I.B. Singer nói rằng ông viết cho trẻ em bởi vì "Chúng tin vào Thượng đế, vào ma quỷ, vào điều thiện và điều ác, và vào tất cả các loại phép thuật...". "Zlateh the Goat" là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết cho trẻ em của ông.

***
Con đường từ làng lên thị trấn thường phủ đầy tuyết vào dịp lễ Ánh sáng[1]. Nhưng năm nay mùa đông ấm hơn. Lễ Ánh sáng sắp đến rồi mà chả có tí tuyết nào rơi. Cả ngày, trời đổ nắng. Dân làng than khổ vì thời tiết quá khô làm cho mùa màng bị thất thu. Cỏ dại mọc đầy đồng và họ phải lùa gia súc ra dọn cỏ.
Đó là một năm thật tệ hại với gia đình bác thợ da Reuven, sau một thời gian dài đắn đo, bác quyết định bán chú dê Zlateh. Nó đã già và không còn cho nhiều sữa nữa. Lão hàng thịt Feyvel trên thị trấn trả tám đồng tiền vàng để mua nó. Số tiền thu về đủ để mua được nến Ánh sáng, khoai tây, dầu làm bánh kếp, quà cho bọn trẻ và những thứ cần thiết khác cho các dịp lễ của gia đình. Ông Reuven bảo cậu con trai lớn Aaron dắt dê lên thị trấn.
Aaron hiểu việc dắt dê lên giao cho lão Feyvel nghĩa là thế nào nhưng cậu phải vâng lời cha. Bà Leah, mẹ cậu không cầm được nước mắt khi hay tin. Hai đứa em gái Anna và Miriam thì khóc sướt mướt.
Aaron khoác áo choàng bông và đội mũ chụp tai, cậu buộc dây thừng quanh cổ Zlateh và mang theo 2 miếng bánh mì kẹp pho mát để ăn trên đường. Aaron phải giao chú dê vào buổi tối, nghỉ qua đêm tại cửa hàng thịt, và trở về vào ngày hôm sau cùng với số tiền.
Trong khi những người trong gia đình bịn rịn chia tay chú dê thì Aaron tròng dây thừng quanh cổ của nó, Zlateh đứng tần ngần và trông hiền hậu hơn bao giờ hết. Nó liếm tay ông Reuven. Nó lắc lư chòm râu nhỏ màu trắng. Zlateh tin mọi người. Nó biết rằng họ luôn chăm sóc và không bao giờ có ý làm hại nó.

Khi Aaron dắt nó ra đường lên thị trấn, nó tỏ vẻ hơi ngạc nhiên. Trước đây nó chưa bao giờ được dẫn đi theo hướng đó. Nó nhìn cậu dò xét, như thể muốn hỏi, "Cậu đưa tôi đi đâu vậy?" Nhưng nó chợt nhận ra một con dê thì không nên đặt những câu hỏi. Tuy nhiên, con đường đã khác đi. Chúng băng qua những đám ruộng mới gặt, những đồng cỏ, và những căn nhà lá. Thỉnh thoảng một con chó chạy theo chúng và sủa inh ỏi, nhưng Aaron dùng gậy đuổi đi.
Trời nắng đẹp khi Aaron rời làng. Nhưng thời tiết thay đổi thật đột ngột. Một đám mây đen lớn với quầng xanh ở giữa xuất hiện phía đông và lan nhanh trên bầu trời. Kèm theo đó là một cơn gió lạnh thổi tới. Lũ quạ bay là là mặt đất, kêu ộp oạp. Lúc đầu, trời trông như thể sắp đổ mưa, nhưng thay vào đó là một trận mưa đá như trong mùa hè. Mới sáng sớm mà trời tối đen như chạng vạng. Sau trận mưa đá, tuyết bắt đầu rơi.
Đã mười hai tuổi, Aaron chứng kiến tất cả các kiểu thời tiết, nhưng cậu chưa bao giờ trải qua một đợt tuyết rơi như thế này. Nó dày đặc đến nỗi che khuất ánh sáng ban ngày. Trong chốc lát, con đường đã hoàn toàn bị tuyết phủ kín. Gió lạnh căm. Con đường lên thị trấn hẹp và quanh co. Aaron thậm chí không còn biết cậu đang ở chỗ nào. Cậu chẳng thể nhìn thấy gì qua lớp tuyết. Hơi lạnh luồn vào áo khoác bông của cậu.
Lúc đầu Zlateh dường như không bận tâm đến sự thay đổi thời tiết. Nó cũng mười hai tuổi và quá rành khí hậu mùa đông. Nhưng khi chân nó càng chìm sâu hơn vào lớp tuyết, nó bắt đầu quay đầu nhìn Aaron kinh ngạc. Đôi mắt dịu dàng dường như hỏi, "Tại sao chúng ta ra ngoài để mắc vào cơn bão như thế này?" Còn Aaron thì mong sao gặp được một bác nông dân nào đó đi xe bò ngang qua, nhưng chẳng có ai cả.
Tuyết trở nên dày hơn, rơi xuống mặt đất ngày một nhiều, bông tuyết xoắn tít. Bên dưới lớp tuyết dày, ủng của Aaron chạm vào lớp đất mềm của đám ruộng mới cày. Cậu nhận ra mình không còn trên con đường. Cậu đã bị lạc. Cậu không còn phân biệt đâu là hướng đông đâu là hướng tây, đâu là hướng về làng và đâu là hướng lên thị trấn. Gió thổi mạnh, rít lên, tuyết cuộn tròn như những xoáy nước. Y hệt những bóng ma trắng toát chơi trò đuổi bắt trên đồng. Một đám bụi trắng xoá bốc lên từ mặt đất làm Zlateh dừng lại. Nó không thể đi được nữa. Nó bướng bỉnh bám móng chân vào mặt đất và kêu lên như thể cầu xin được đưa về nhà. Những hạt băng đá treo lơ lửng trên bộ râu trắng, và sừng nó lấp lánh sương giá.
Aaron không ngại hiểm nguy, nhưng cậu biết bọn chúng sẽ chết cóng nếu không tìm được nơi trú ẩn. Đây không phải là cơn bão bình thường mà là một trận bão tuyết dữ dội. Lớp tuyết đã dày tới đầu gối. Bàn tay cậu tê cứng, và cậu không còn cảm giác nơi các ngón chân mình. Hơi thở nặng nhọc. Mũi cậu cứng đơ như gỗ, và cậu phải xát tuyết vào nó. Zlateh cất giọng rên rỉ như muốn khóc. Những người mà nó đã đặt rất nhiều niềm tin đã kéo nó vào một cái bẫy. Aaron bắt đầu cầu Chúa phù hộ cho mình và con vật vô tội.
Đột nhiên, cậu nhìn thấy một ụ tuyết có hình thù như một ngọn đồi. Cậu tự hỏi không biết nó là cái gì. Ai đã dồn tuyết thành một đống lớn như vậy nhỉ? Cậu dắt Zlateh tiến về phía đó. Khi đến gần, cậu nhận ra rằng đó là một đống cỏ khô lớn bị tuyết bao phủ.

Lập tức Aaron nhận ra chúng đã được cứu sống. Với nỗ lực tột cùng, cậu đào một lối đi xuyên qua lớp tuyết. Là con nhà nông nên cậu biết phải làm như thế nào. Khi chạm đến đống cỏ, cậu khoét một khoang rỗng vừa đủ chỗ cho cậu và con dê. Cho dù bên ngoài trời lạnh thấu xương, phía trong đống cỏ luôn ấm áp. Và cỏ khô còn là thức ăn cho Zlateh nữa. Ngay khi ngửi thấy mùi cỏ, nó trở nên phấn chấn và bắt đầu ăn ngon lành. Bên ngoài tuyết vẫn tiếp tục rơi và nhanh chóng phủ kín lối đi mà Aaron đã đào. Tuy vậy, cậu và con vật cần không khí để thở nhưng hầu như không có bất kỳ tí không khí nào trong nơi ẩn náu của chúng. Aaron khoét một cái lỗ thông hơi xuyên qua lớp cỏ khô và tuyết, cậu cẩn thận giữ cho cái lỗ đó được thông suốt.
Sau khi đã no nê, Zlateh ngồi xuống trên hai chân sau và dường như đã lấy lại tinh thần. Aaron ăn hai lát bánh mì kẹp pho mát, nhưng sau chuyến hành trình đầy khó khăn, cậu vẫn còn đói. Cậu nhìn Zlateh và thấy vú nó căng tròn. Cậu nằm xuống bên cạnh nó, chỉnh lại tư thế sao cho khi vắt sữa của nó cậu có thể đễ dàng đưa vào miệng mình. Sữa dê thật là béo và ngọt. Zlateh không quen với việc được vắt sữa theo cách này, nhưng nó không phản ứng. Ngược lại, nó có vẻ háo hức để trả công cho Aaron vì đã đưa nó đến một nơi trú ẩn mà tường, sàn, và trần đều được làm bằng thức ăn ưa thích của nó.
Qua lỗ thông hơi, Aaron có thể thấy lờ mờ sự hỗn độn bên ngoài. Gió thổi cuốn toàn bụi tuyết. Trời tối mịt, và cậu không biết liệu đang là ban đêm hay chỉ là bóng tối do cơn bão gây ra. Tạ ơn Chúa vì bên trong đống cỏ khô trời không lạnh. Cỏ khô, cỏ tươi, và hoa dại tiết ra sự ấm áp của nắng hè. Zlateh ăn luôn mồm, nó gặm bên trên, bên dưới, bên trái, bên phải của hang cỏ. Cơ thể của nó toả hơi ấm của động vật và Aaron ôm ấp nó. Cậu luôn yêu quý Zlateh, nhưng bây giờ nó giống như một người chị của cậu. Cậu chỉ có một mình, mất liên lạc với gia đình, và cậu muốn trò chuyện. Cậu bắt đầu nói chuyện với Zlateh. "Zlateh, mày nghĩ thế nào về những gì đã xảy ra với chúng ta?" Cậu hỏi.
"Maaaa," Zlateh trả lời.
Aaron nói: "Nếu không tìm thấy đống cỏ khô này, chắc giờ cả hai ta đã bị đông cứng cả rồi đấy".
"Maaaa," là câu trả lời của con dê.
"Nếu như tuyết vẫn cứ rơi mãi như thế này, chúng ta có thể phải ở lại đây trong nhiều ngày," Aaron giải thích.
"Maaaa," Zlateh rên rỉ.
"'Maaaa' nghĩa là gì?" Aaron hỏi. "Mày nên nói rõ ràng."
"Maaaa. Maaaa, "Zlateh vẫn cố gắng trả lời.
"Uh, mày thì cái gì cũng 'Maaaa' thôi," Aaron kiên nhẫn nói. "Mày không thể nói, nhưng tao biết mày hiểu. Tao cần mày và mày cũng cần tao. Đúng không? "
"Maaaa".
Aaron buồn ngủ. Cậu gom ít cỏ khô để làm một cái gối, gối đầu lên đó và chợp mắt. Zlateh cũng thiếp đi.
Khi Aaron mở mắt, cậu không biết lúc này là ngày hay đêm. Tuyết đã bịt kín lỗ thông hơi. Cậu cố thông lại nó, nhưng cậu đã khoét lút cả cánh tay mình mà vẫn chưa thông ra được bên ngoài. May thay, cậu vẫn giữ cây gậy bên mình và nó giúp cậu thông được cái lỗ. Trời bên ngoài vẫn tối đen như mực. Tuyết tiếp tục rơi và gió vẫn rít, ban đầu là từng tiếng một và sau đó là nhiều tiếng dồn dập. Đôi khi là những tiếng rền rất ma quái. Zlateh cũng tỉnh dậy, và khi Aaron chào nó, nó trả lời: "Maaaa", ngôn ngữ của Zlateh chỉ mỗi một từ, nhưng chứa đựng nhiều nghĩa. Giờ đây ý nó muốn nói, "Chúng ta phải chấp nhận tất cả những gì Thượng đế ban cho - nóng, lạnh, đói, sướng, ánh sáng và bóng tối."
Aaron đói cồn cào. Cậu đã ăn sạch đồ ăn mang theo, nhưng Zlateh có nhiều sữa.
Aaron và Zlateh đã trú trong hang cỏ được ba ngày. Aaron luôn yêu quý Zlateh, nhưng trong ba ngày này, cậu càng yêu nó hơn. Nó cho cậu sữa và giúp cậu giữ ấm. Nó an ủi cậu với sự nhẫn nại. Cậu kể cho nó nghe rất nhiều chuyện, và nó luôn vểnh tai lắng nghe. Khi cậu vỗ về nó, nó liếm bàn tay và khuôn mặt cậu. Rồi nó kêu lên "Maaaa", và cậu biết điều đó có nghĩa là “Tôi cũng yêu cậu”.

Tuyết đã rơi được ba ngày, mặc dù sau ngày đầu tiên, tuyết không còn rơi dày đặc và gió đã yên hơn. Đôi khi Aaron cảm thấy rằng chưa từng có một mùa hè, mà tuyết luôn rơi, kể từ lúc cậu có thể nhớ ra. Cậu, không bao giờ có cha, mẹ hoặc các em gái. Cậu là một đứa trẻ tuyết, sinh ra bởi tuyết, và Zlateh cũng vậy. Hang cỏ yên lặng đến nỗi tai cậu có thể cảm nhận rõ sự tĩnh mịch. Aaron và Zlateh ngủ suốt đêm và những lúc có thể vào ban ngày. Những giấc mơ của Aaron tràn ngập hình ảnh ấm áp. Cậu mơ thấy những cánh đồng xanh mơn mởn, cây cối nở đầy hoa, những dòng suối trong trẻo và tiếng chim hót líu lo. Đến đêm thứ ba tuyết ngừng rơi, nhưng Aaron không dám tìm đường về nhà trong đêm tối. Bầu trời trở nên trong xanh và ánh trăng toả sáng như giăng lưới bạc trên nền tuyết. Aaron đào lỗ chui ra ngoài và quan sát mọi vật. Toàn một màu trắng toát, tĩnh mịch, mơ màng như những giấc mơ lộng lẫy tuyệt trần. Những ngôi sao to và gần. Mặt trăng lơ lửng trên bầu trời như đang trôi trên mặt biển.
Vào sáng ngày thứ tư, Aaron nghe thấy tiếng chuông của xe trượt tuyết. Hang cỏ cách không xa con đường. Bác nông dân lái xe trượt tuyết chỉ đường cho cậu - không phải là đường lên thị trấn và nhà lão hàng thịt Feyvel mà là đường về nhà trong làng. Khi trú trong hang cỏ Aaron đã quyết định cậu sẽ không bao giờ rời xa Zlateh nữa.
Gia đình và hàng xóm của Aaron đã tìm kiếm cậu và con dê suốt cơn bão nhưng chả thấy tung tích gì của chúng. Họ nghĩ chúng đã bị lạc. Mẹ và các em gái Aaron khóc thương cậu, cha cậu cứ lặng im và rầu rĩ. Bỗng một người hàng xóm chạy đến nhà họ báo tin rằng Aaron và Zlateh đang trên đường về.
Cả nhà vui mừng khôn xiết. Aaron kể với họ cậu tìm được đống cỏ khô như thế nào và Zlateh đã nuôi cậu bằng sữa của nó ra sao. Mấy đứa em gái Aaron hôn hít và ôm ấp Zlateh, bọn chúng chiêu đãi nó những món ăn thật đặc biệt đó là cà rốt xắt nhỏ và khoai tây đã gọt vỏ, Zlateh ăn ngấu nghiến một cách thèm khát.
Không ai nghĩ đến chuyện bán Zlateh nữa, và giờ đây cái lạnh cuối cùng cũng tràn về, dân làng cần sự phục vụ của bác thợ da Reuven để giữ ấm. Khi lễ Ánh sáng đến, mẹ Aaron có thể chiên bánh kếp mỗi tối, và Zlateh cũng được dự phần. Mặc dù Zlateh có chuồng riêng, nó thường đến nhà bếp, dùng cặp sừng gõ vào cửa để báo hiệu nó đã sẵn sàng vào nhà, và nó luôn được chào đón. Vào buổi tối Aaron, Miriam và Anna chơi trò con quay. Zlateh ngồi cạnh bếp xem bọn trẻ chơi và ngắm nhìn những ngọn nến Ánh sáng nhấp nháy.
Có lần Aaron chợt hỏi, "Zlateh, mày nhớ ba ngày mà chúng ta đã ở bên nhau chứ?"
Và Zlateh đưa chiếc sừng khều khều vào cổ, hất chùm râu trắng về phía trước và quay đi cùng với tiếng kêu duy nhất nhưng biểu lộ hết thảy suy nghĩ và tình cảm của nó.

Ngô Thanh Tuấn 
dịch từ bản tiếng Anh "Zlateh the Goat" của chính Tác giả và Elizabeth Shub



[1] Lễ Ánh sáng (Tiếng Anh: Hanukkah- tiếng Hebrew: חנוכה) là một lễ hội truyền thống kéo dài tám ngày của dân tộc Do Thái. Lễ hội bắt đầu vào ngày thứ 25 của tháng Kislev, vốn có thể rơi vào bất kỳ lúc nào giữa tháng 11 đến cuối tháng 12. Đặc điểm nổi bật của lễ hội là người dân sẽ thắp một ngọn đèn vào mỗi đêm của lễ hội, cho đến đêm thứ 8 sẽ có 8 ngọn đèn được thắp sáng.


 Phim "Zlateh the Goat" của đạo diễn lừng danh Gene Deitch- cha đẻ "Tom và Jerry"
(Nguồn: http://genedeitchcredits.com/2012/05/30/zlateh-the-goat/)

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013

Isaac Bashevis Singer- Tại sao tôi viết cho trẻ em?


Trẻ em là độc giả tuyệt vời nhất của văn chương đích thực. Người lớn bị mê hoặc bởi những tên tuổi lớn, những trích dẫn phóng đại, và những quảng cáo ấn tượng. Các nhà phê bình, những người có mối liên hệ với xã hội học hơn là văn chương, đã thuyết phục hàng triệu độc giả rằng nếu một câu chuyện không cố gắng mang lại một cuộc cách mạng xã hội thì không có giá trị. Hàng trăm giáo sư, những người chuyên viết bài giới thiệu sách, cố gắng làm cho học trò của mình tin rằng chỉ những nhà văn cần nhiều lý giải phức tạp và vô số các chú thích mới đúng là những thiên tài sáng tạo của thời đại chúng ta.
Nhưng trẻ em không tin vào điều đó. Chúng vẫn cứ thích sự rõ ràng, hợp lý, thậm chí các chi tiết lỗi thời như dấu chấm câu. Hơn nữa, độc giả nhỏ tuổi đòi hỏi một câu chuyện có thật, với một khởi đầu, diễn biến và kết thúc, những câu chuyện theo lối truyền thống đã được kể hàng ngàn năm nay.
Trong thời đại chúng ta, khi kể chuyện đã trở thành một nghệ thuật bị xem thường và được thay thế bởi xã hội học nghiệp dư và tâm lý học nhàm chán, trẻ em vẫn là những độc giả độc lập không tin vào bất cứ điều gì ngoài cảm nhận của riêng chúng. Tên tuổi và uy tín của nhà văn chả có ý nghĩa gì cả. Một thời gian dài sau khi văn chương cho người lớn cáo chung, văn chương cho trẻ em sẽ được coi là di sản cuối cùng của nghệ thuật kể chuyện, tính hợp lý, niềm tin vào gia đình, vào Thượng đế và vào tính nhân bản đích thực.
Khi tôi bắt tay vào viết một câu chuyện, đầu tiên tôi phải có một chủ đề hoặc đề tài thiết thực. Ta không thể viết cho trẻ em những gì mà một số nhà phê bình gọi là "một mảnh của cuộc sống." Thật ra cái gọi là những mảnh cuộc sống là thứ chán phèo ngay cả đối với người lớn.
Tôi cũng phải có một khao khát hoặc một cảm xúc thực sự để viết nên câu chuyện. Đôi khi tôi có một chủ đề, nhưng tôi lại chẳng có động lực để triển khai nó. Tôi đã liệt kê ra hàng trăm chủ đề mà tôi sẽ chẳng bao giờ sử dụng vì chúng thực sự chả cuốn hút tôi.
Cuối cùng, tôi phải có niềm xác tín - hoặc ít nhất là ảo tưởng - rằng chỉ có tôi mới là người có thể viết nên câu chuyện đặc biệt này. Nó phải là câu chuyện của riêng tôi. Nó phải thể hiện cá tính của tôi, nhân vật của tôi, thế giới quan của tôi.
Nếu hội đủ ba điều kiện trên, tôi sẽ viết một câu chuyện. Điều này đúng cả khi tôi viết cho trẻ em hay viết cho người lớn.
Vài cuốn sách tệ thiếu ba điều kiện này. Chúng chả có cốt truyện, chả có cảm xúc, và cũng chả có mối liên hệ thực tế nào với tác giả.
Vì trẻ em thích sự rõ ràng và hợp lý, bạn có thể lấy làm lạ là làm thế nào tôi có thể viết về những chuyện thần bí, mà theo định nghĩa thì nó chả có bất cứ sự rõ ràng và hợp lý nào cả. Tính hợp lý và "hiện thực chủ nghĩa", như là một phương pháp văn chương, là hai điều khác nhau. Một người có thể là một thực tế rất vô lý và một nhà thần bí rất hợp lý. Bản chất trẻ em là có xu hướng thích những điều thần bí. Chúng tin vào Thượng đế, vào ma quỷ, vào điều thiện và điều ác, và vào mọi loại phép thuật. Tuy nhiên, chúng đòi hỏi tính thống nhất thực sự trong những câu chuyện này. Tính hợp lý thường rất cao trong tôn giáo và có rất thấp trong chủ nghĩa duy vật. Thường thì những người cứ khăng khăng rằng thế giới tự sinh ra thì không có bất kỳ sự tôn trọng nào vào lý trí.
Thật bi kịch khi nhiều nhà văn coi thường những câu chuyện thần bí, lại cố viết những thứ cho trẻ em mà thực ra chẳng có gì ngoài một mớ hổ lốn. Có những cuốn sách cho trẻ em mà ý này chả ăn nhập gì với ý kia. Mọi thứ xảy ra một cách tùy tiện và bừa bãi, chẳng có bất kỳ mối liên hệ nào với kinh nghiệm hay sự tưởng tượng của trẻ em.
Những trang viết như vậy chẳng những chả mang lại chút giải trí nào cho trẻ mà còn làm tổn hại đến cách suy nghĩ của chúng. Đôi khi tôi có cảm giác rằng những người được gọi là các tác giả tiên phong cho văn chương trẻ em đang cố gắng chuẩn bị cho trẻ tiếp cận tác phẩm “Finnegan’s Wake” của James Joyce hoặc sa và các trò chơi chữ nghĩa kiểu như vậy mà một vài vị các giáo sư quá say mê giảng giải. Thay vì giúp chúng suy nghĩ, những trang viết như vậy làm què quặt tâm hồn trẻ nhỏ. Do đó có thể nói- trong văn chương trẻ em thì sự thần bí là phải có nhưng sự vô nghĩa thì không.
Văn học dân gian đóng vai trò tối quan trọng trong văn chương cho trẻ em. Bi kịch của văn chương người lớn hiện đại là nó hoàn toàn xa rời văn học dân gian. Nhiều tác giả hiện đại đã hoàn toàn mất gốc. Họ không thuộc về và cũng không muốn thuộc về bất kỳ trào lưu đặc biệt nào cả. Họ sợ bị gọi là những người thị tộc chủ nghĩa, dân tộc chủ nghĩa hoặc sô vanh chủ nghĩa.
Thực ra không có văn chương mất gốc. Một người không thể viết truyện hay mà chỉ toàn nói về con người chung chung. Trong văn chương, cũng như trong cuộc sống, tất cả mọi thứ đều có đặc tính. Mỗi người đều có nơi chốn thực và nơi chốn trong tâm thức của mình. Đúng là trong truyện ngụ ngôn không nhất thiết hoặc thậm chí không cần phải có nơi chốn cụ thể, nhưng mọi loại văn chương ngoài ngụ ngôn thì phải có. Một nhà văn càng bám rễ sâu vào môi trường sống của mình thì càng được cảm nhận rộng rãi, càng mang tính dân tộc, và càng được phổ biến ra thế giới.
Khi tôi bắt đầu viết những câu chuyện trong tập “Chú dê Zlateh”, tôi biết rằng những câu chuyện này sẽ không chỉ được đọc bởi trẻ em Do Thái mà còn được đọc bởi những người ngoài Do Thái nữa. Tôi kể về trẻ em Do Thái, những nhà hiền triết Do Thái, những kẻ ngốc Do Thái, những chú rể Do Thái, những cô dâu Do Thái. Các sự kiện liên quan không phải xảy ra ở một nơi vô định nào đó mà ở các thị trấn và những ngôi làng nhỏ mà tôi biết rất rõ và là nơi tôi đã lớn lên. Thánh thần của tôi là những vị thánh Do Thái và những con quỷ cũng là quỷ Do Thái. Và cuốn sách này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Nhiều cuốn sách dành cho trẻ em ngày nay không có màu sắc bản địa, không có sự quyến rũ dân tộc. Các nhà văn cố gắng quốc tế hoá - để cho ra đời những trang viết hấp dẫn mọi người - nhưng rồi chẳng đến được với ai. (Tiện thể xin nhắc đến Kinh Thánh, đặc biệt là Sách Sáng Thế, nó tràn ngập những câu chuyện dành cho trẻ em - tất cả chúng đều ngắn gọn, rõ ràng, bắt rễ sâu xa vào thời gian và không gian. Điều này lý giải cho sự phổ biến rộng rãi của chúng.)
Nếu không có văn học dân gian và sự bắt rễ sâu trong vùng đất cụ thể, văn chương sẽ suy tàn và khô héo. Điều này đúng trong tất cả mọi nền văn chương ở mọi thời đại. May thay, ngày nay văn chương cho trẻ em thậm chí còn bắt nguồn từ văn hóa dân gian nhiều hơn so với văn chương cho người lớn. Và chỉ có điều này mới khiến văn chương trẻ em trở nên quan trọng như thế trong thời đại chúng ta.
Một số nhà văn viết sách, không phải vì họ yêu thích những câu chuyện, mà bởi họ tâm đắc với thông điệp họ đưa ra trong tác phẩm. Không hề thiếu thông điệp trong thời đại của chúng ta hoặc bất kỳ thời nào khác. Nếu tất cả các thông điệp đều biến mất và chỉ còn lại Mười Điều Răn của Chúa, chúng ta vẫn sẽ có những thông điệp đủ cho hiện tại và tương lai. Rắc rối của chúng ta không phải là chúng ta không có đủ thông điệp mà chúng ta từ chối đưa ra và chuyển tải chúng.
Nhà văn viết một cuốn tiểu thuyết tệ mang thông điệp về hòa bình, công bằng và những điều cao cả khác không làm chúng ta nhiệt tình hưởng ứng. Chúng ta đã nghe những điều này trước đó và sẽ tiếp tục nghe về nó trong các bài xã luận trên báo, trong những bài giảng, thậm chí từ các nhà ngoại giao của các quốc gia hiếu chiến nhất. Có vô số các nhà văn mà chỉ đòi hỏi ở văn chương rằng họ đúng và thông điệp của họ là chính đáng.
Văn chương cần những câu chuyện được xây dựng tốt và sáng tạo, không phải là những thông điệp cũ mèm, với mỗi một câu chuyện hay thì thông điệp mà nó mang đến, mặc dù là không rõ ràng, thì sớm hay muộn cũng sẽ được các độc giả hoặc những nhà phê bình nhận ra. Tôi chả biết thông điệp của Tolstoy trong “Chiến tranh và Hòa bình”, nhưng đó là một cuốn sách tuyệt vời, chỉ cần như vậy. Một câu chuyện đích thực có thể có nhiều cách diễn giải, vô số các thông điệp, hàng núi những luận giải. Các sự kiện không bao giờ cũ, nhưng những nhận xét thường là cũ ngay từ đầu.
Khi còn nhỏ, tôi rất hạnh phúc khi được kể những câu chuyện giống nhau từ cha và ông nội tôi. Bọn trẻ ở thời của tôi không được đọc những câu chuyện về vịt con rơi vào ấm súp và nổi lên như ếch đất. Chúng tôi thích thú những câu chuyện về Adam và Eva, nạn hồng thuỷ, những người xây Tháp Babel, các cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Abraham, Isaac, Jacob, Joseph. Chúng tôi được dạy không bao giờ phải phó thác hoàn toàn vào đấng nào. Chúng tôi đã cố gắng tìm động cơ và tính nhất quán trong các quy luật và những điều răn của Thiên Chúa. Tôi thường cảm thấy rất nhiều tội lỗi diễn ra ngày nay là kết quả của những thứ suy đồi mà thế hệ hiện đại đã đọc được khi còn trên ghế nhà trường.
Kể từ khi tôi bắt đầu viết sách cho trẻ em tôi đã nói chuyện với nhiều trẻ em, đọc cho chúng nghe những câu chuyện (mặc dù giọng của tôi còn lâu mới hoàn hảo), và trả lời hàng trăm câu hỏi của chúng. Tôi luôn luôn kinh ngạc khi thấy rằng khi đề cập đến việc đặt câu hỏi, trẻ em cũng có cùng một sự tò mò như người lớn: Làm thế nào ông có được ý tưởng cho một cuốn sách? Ông tưởng tượng hay lấy từ cuộc sống? Ông viết một cuốn sách hết bao lâu? Ông có dùng những câu chuyện mà cha mẹ ông đã kể với ông không?
Bất kể lớn nhỏ, trẻ em có mối liên hệ sâu sắc với cái gọi là những câu hỏi bất tận: Ai đã tạo ra thế giới? Ai đã tạo ra trái đất, bầu trời, con người, muôn thú? Trẻ em không thể hình dung được khởi đầu hoặc kết thúc của thời gian và không gian. Khi còn bé tôi đã đặt mọi câu hỏi mà sau này tôi đã tìm thấy những luận giải trong các tác phẩm của Plato, Aristotle, Spinoza, Leibnitz, Hume, Kant, và Schopenhauer. Trẻ em suy nghĩ và suy tư về những vấn đề như công bằng, mục đích sống, nguyên nhân đau khổ. Chúng thường cảm thấy khó chấp nhận ý nghĩ rằng thú vật được giết mổ để làm thức ăn cho con người. Chúng hoang mang và sợ hãi cái chết. Chúng không thể chấp nhận thực tế là kẻ mạnh thống trị kẻ yếu.
Nhiều người lớn cho rằng chẳng có mục đích gì khi đặt những câu hỏi và ta nên chấp nhận sự thật như chúng hẳn thế. Tuy nhiên, trẻ em thường là một triết gia và một người kiếm tìm Thượng đế. Đây là một trong những lý do tôi luôn luôn đề nghị chúng đọc Kinh Thánh. Kinh Thánh không trả lời mọi câu hỏi, nhưng nó giúp giải đáp những câu hỏi. Nó cho chúng ta biết rằng có một Thiên Chúa, Đấng tạo ra trời đất. Nó lên án Cain giết Abel. Nó cho chúng ta biết kẻ ác bị trừng phạt và những người tốt, mặc dù có thể trải qua nhiều đau khổ, thì được tưởng thưởng và yêu mến bởi Đấng Toàn Năng.
Nếu có điều kiện, tôi sẽ xuất bản một cuốn sách về lịch sử triết học cho trẻ em, qua đó tôi sẽ truyền đạt những ý tưởng cơ bản của tất cả các triết gia với ngôn ngữ đơn giản. Trẻ em, những người cực kỳ nghiêm túc, sẽ đọc cuốn sách này với sự thích thú cao độ. Trong thời đại của chúng ta, khi văn chương cho người lớn trở nên xấu xa, những cuốn sách hay cho trẻ em là hy vọng và nơi trú ẩn duy nhất. Nhiều người lớn đọc và thưởng thức những cuốn sách cho trẻ em. Chúng tôi viết không chỉ cho trẻ em mà còn cho các bậc cha mẹ của chúng nữa. Họ cũng là những đứa trẻ nghiêm túc.
Ngô Thanh Tuấn Dịch từ “Are Children the Ultimate Literary Critics?” 


Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Isaac Bashevis Singer- Gimpel ngốc nghếch 4


4
Một đêm, sau khi lo xong đám tang, tôi nằm mơ màng trên những bao bột, lão Ác Thần hiện ra và bảo, "Gimpel, sao ông lại ngủ?"
Tôi nói, "Thế giờ tôi phải làm gì? Ăn kreplech[i] chắc?"
"Cả thiên hạ lừa ông," lão ta nói, "giờ đến lượt ông phải lừa lại họ."
"Làm thế nào tôi lừa được cả thiên hạ?" Tôi hỏi lão.
Lão đáp, "Mỗi ngày ông gom một xô nước tiểu rồi tối đến đổ nó vào bột làm bánh. Hãy để những nhà hiền triết của Frampol thưởng thức thứ dơ bẩn đó."
"Thế còn sự trừng phạt trong kiếp sau thì sao?" Tôi nói.
"Chẳng có kiếp sau nào hết", lão nói. "Bọn họ lừa ông rồi bảo ông phải tin rằng đó là sự thật. Quá vô lý!"
"Vậy thì," Tôi nói, "có Chúa không?"
Lão trả lời, "Cũng chẳng có Chúa."
"Sao cơ", tôi nói, "thế thì có gì trên đó?"
"Một vũng bùn đặc sệt.”
Lão đứng trước mặt tôi với bộ râu dê và cặp sừng, nhe nanh, và thêm cái đuôi nữa. Nghe lão nói thế tôi muốn tóm lấy cái đuôi của lão, nhưng tôi rơi tòm khỏi đám bao bột và suýt trẹo xương sườn. Chuyện tiếp theo là tôi phải đáp lại tiếng gọi của bản năng, và khi đi ngang qua, tôi thấy đám bột nhào dường như nói với tôi, "Hãy làm đi!" Cuối cùng, tôi cũng bị thuyết phục.
Rạng sáng, người học việc đến. Chúng tôi nhào bánh mì, rải hạt carum lên rồi cho vào lò. Sau đấy, người học việc bỏ ra ngoài, chỉ còn mình tôi ngồi trong rãnh nhỏ cạnh lò, trên một đống giẻ rách. Ừ, Gimpel, tôi nghĩ, thế là mày đã trả thù bọn họ vì tất cả những tủi hổ họ đã gây ra cho mày. Bên ngoài sương giá lấp lánh, nhưng bên lò rất ấm. Ngọn lửa làm mặt tôi nóng lên. Tôi gục đầu và rơi vào giấc ngủ chập chờn.
Tức thì, tôi thấy trong mơ, Elka trong tấm vải liệm. Cô ấy bảo tôi, “Ông đã làm gì thế, Gimpel?"
Tôi nói, "Tất cả là lỗi của bà", và bắt đầu nức nở.
"Ngốc ạ", cô nói. "Ông thật là ngốc! Chẳng lẽ vì tôi đã phạm sai lầm thì mọi thứ đều sai lầm ư? Tôi chưa hề lừa dối ai, ngoài chính bản thân mình. Tôi đang phải trả giá cho tất cả những điều đó, Gimpel. Họ sẽ không tha cho ông đâu."
Tôi nhìn khuôn mặt cô. Nó đen sì; Tôi giật mình tỉnh giấc, ngồi thẫn thờ câm lặng. Tôi thấy tất cả mọi sự đều công bằng. Một bước sai lầm bây giờ và tôi sẽ đánh mất sự sống vĩnh hằng. Nhưng Chúa đã ban ơn cho tôi. Tôi vớ lấy cái xẻng dài và xúc hết chỗ bánh mì, đem ra sân, rồi bắt đầu đào một cái hố trên nền đất lạnh.
Người học việc của tôi quay lại khi tôi đang đào hố. "Ông làm gì vậy ông chủ?", Anh ta nói, mặt tái nhợt như xác chết.
"Mặc kệ tôi," tôi đáp, và chôn hết chỗ bánh trước cặp mắt kinh ngạc của anh ta.
Sau đó, tôi trở về nhà, lấy toàn bộ của cải dành dụm được ra khỏi chỗ giấu và chia cho các con, "Bố đã thấy mẹ của các con tối nay," tôi nói, "Bà ấy biến thành thứ đen sì và xấu xí."
Bọn chúng kinh ngạc đến mức không thốt nên lời.
"Hãy sống tốt," Tôi nói, "và hãy quên đi, coi như chưa từng có lão Gimpel trên cõi đời này." Tôi khoát áo choàng ngắn, xỏ giày, một tay đeo túi đựng khăn choàng cầu nguyện, tay kia mang đồ ăn đi đường, và hôn lên mezuzah[ii]. Khi mọi người nhìn thấy tôi trên đường, họ rất ngạc nhiên.
"Ông đi đâu đấy?", Họ nói.
Tôi đáp, "đi vào cõi thế." Và thế là tôi rời khỏi Frampol.
Tôi lang thang qua nhiều vùng đất, và những người tốt đã không bỏ rơi tôi. Sau nhiều năm ròng, tôi trở nên già nua, râu tóc bạc phơ; tôi nghe được nhiều điều hay, cả nhiều điều dối trá lẫn sai lầm, nhưng càng sống lâu tôi càng ngộ ra rằng thực ra chẳng có gì là dối trá. Điều gì không thực sự xảy ra thì ban đêm sẽ mơ thấy. Nếu không xảy ra với người này thì xảy ra với người khác, vào ngày mai nếu như không phải hôm nay, hoặc vào thế kỷ sau nếu như không phải sang năm. Có gì khác nào? Thường thì khi nghe những câu chuyện như thế tôi nói, "Bây giờ thì chuyện ấy không xảy ra" Nhưng trước đó một năm, tôi có nghe nó thực sự xảy ra ở đâu đó.
Đi hết nơi này qua chốn nọ, ngồi ăn bên những bàn ăn xa lạ, điều tôi thường làm là bịa chuyện - những điều không có thực mà có lẽ chẳng bao giờ xảy ra - về ma quỷ, tà thuật, cối xay gió, và những điều tương tự. Bọn trẻ chạy theo gọi tôi, "Ông ơi, kể chuyện cho chúng cháu nghe đi". Đôi khi bọn chúng đòi kể một câu chuyện đặc biệt, và tôi cố làm vui lòng chúng. Một thằng bé múp míp có lần bảo tôi: "Ông ơi, chuyện này giống chuyện ông đã kể trước đây rồi" thằng ranh, nó nói đúng.
Và những giấc mơ cũng thế. Tôi đã rời Frampol nhiều năm rồi, nhưng mỗi khi nhắm mắt lại, tôi như quay về nơi đó. Và bạn biết tôi thấy ai không? Elka, Cô ấy đứng cạnh bồn rửa, y hệt lần đầu chúng tôi gặp gỡ, nhưng khuôn mặt sáng ngời và đôi mắt rạng rỡ như một thiên thần, và cô nói với tôi những lời lạ lùng, những điều kỳ lạ. Khi thức dậy tôi quên tuốt. Nhưng trong mơ thấy khuây khoả. Cô trả lời mọi thắc mắc của tôi, và những gì xảy ra thì đúng y như vậy. Tôi khóc lóc van nài, "Hãy cho tôi theo bà." Cô an ủi tôi và bảo tôi phải kiên nhẫn. Thời gian sẽ trôi nhanh hơn độ dài của nó. Đôi khi cô vuốt ve, hôn và nhỏ lệ trên mặt tôi. Khi thức dậy tôi còn cảm nhận được đôi môi cô cùng vị mặn của nước mắt.
Không nghi ngờ gì nữa thế giới này hoàn toàn là cõi mộng, nhưng nó chỉ đi ra từ cõi thực. Tại ngưỡng cửa căn nhà tồi tàn nơi tôi nằm có dựng sẵn những tấm ván hòm. Người đào huyệt Do Thái đã sẵn sàng cuốc xẻng. Huyệt mộ cùng lũ giun đói đang chờ đợi, tôi đã chuẩn bị những tấm vải liệm trong cái túi hành khất của mình. Một gã ăn mày đang chờ để kế thừa ổ rơm của tôi. Khi đúng thời điểm, tôi sẽ ra đi thanh thản. Bất cứ thứ gì hiện diện ở cõi ấy đều là thật, không phức tạp, không nhạo báng, không dối trá. Tạ ơn Chúa: ở đó ngay cả Gimpel cũng không thể bị dối lừa.
Ngô Thanh Tuấn dịch từ bản tiếng Anh “Gimpel the Fool” của Saul Bellow




[i] kreplach: Là món ăn của người Do Thái dạng bánh bao nhỏ nhồi thịt, khoai tây nghiền hay những nguyên liệu khác, thường được ăn nóng cùng với súp gà.
[ii] mezuzah : là một mảnh da treo ở cửa nhà được ghi câu kinh thánh Torah bằng tiếng Do Thái (thường dùng để trang trí).