Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

Isaac Bashevis Singer- Gimpel ngốc nghếch 3


3
            Chín tháng trôi qua trước khi tất cả các giáo sĩ có thể đi đến thống nhất. Thư từ qua lại. Tôi không nghĩ rằng phải cần đến nhiều sự uyên bác về một vấn đề như thế.
Trong khi đó, Elka đã đẻ thêm một đứa nữa, lần này là một bé gái. Vào ngày lễ Sabbath, tôi đến giáo đường và cầu Chúa ban phước lành cho nó. Họ gọi tôi đến bàn thờ, và tôi đặt tên cho đứa bé theo tên mẹ vợ tôi, cầu mong bà ấy được yên nghỉ. Những kẻ thô lỗ và bọn lắm mồm ở thị trấn đến tiệm bánh để dò xét tôi. Cả Frampol hoàn hồn vì những rắc rối và đau buồn của tôi. Tuy nhiên, tôi nhất quyết sẽ luôn tin vào những gì đã được dạy bảo. Không tin thì lợi lộc gì? Hôm nay anh không tin vợ mình, ngày mai anh cũng sẽ không tin vào Đức Chúa Trời.
Qua người học việc là hàng xóm của cô ta, hàng ngày tôi gửi bánh ngô hoặc một ổ bánh mì, hay một miếng bánh ngọt, bánh cuộn hoặc bánh sừng bò, hoặc khi có điều kiện thì một miếng bánh pudding, một lát bánh mật, hoặc bánh ngọt nhân trái cây trong đám cưới- bất cứ thứ gì tôi kiếm được. Người học việc là một gã đáng chán, và hơn một lần hắn đã bỏ thêm đồ ăn của hắn vào những thứ tôi gửi. Hắn đã từng làm tôi rất khó chịu, giật lông mũi và thúc vào sườn tôi, nhưng khi hắn bắt đầu là khách của gia đình tôi thì hắn trở nên tử tế và thân thiện. "Này Gimpel," hắn nói với tôi, "anh có một người vợ rất là hiền thục và hai đứa trẻ tuyệt vời. Anh không xứng đáng với họ."
"Nhưng những điều người ta nói về cô ta thì sao", tôi nói.
"Ừ, thì miệng lưỡi thế gian mà," hắn nói, "toàn bọn ngồi lê đôi mách. Hãy coi như lời nói gió bay đi".
Một ngày nọ, giáo sĩ gọi tôi đến và nói, "Gimpel, cậu có chắc chắn là cậu đã nhầm lẫn về vợ mình?"
Tôi nói: "Nhất định rồi."
"Sao, nhìn tôi này! Chính cậu đã tận mắt nhìn thấy mà."
"Là cái bóng thôi," tôi nói.
"Bóng của cái gì?"
"À, chỉ là bóng của một trong những cái xà nhà, tôi nghĩ thế"
"Thôi được rồi, cậu có thể về nhà. Cậu nợ giáo sĩ Yanover một lời cám ơn. Ông ta tìm thấy một chỉ dẫn hiếm hoi trong sách Maimonides[i] với nội dung ủng hộ cậu".
Tôi nắm lấy và hôn bàn tay của giáo sĩ.
Tôi muốn chạy về nhà ngay lập tức. Xa cách vợ con một thời gian dài không phải là chuyện nhỏ. Rồi tôi tự nhủ: Tốt hơn hết là nên quay lại làm việc ngay, đến tối hẳn về nhà. Tôi không kể với bất cứ ai, mặc dù tôi rạo rực nghĩ đến điều đó giống như đó là một trong các ngày đại Lễ. Các bà các cô trêu chọc và đùa cợt tôi như họ vẫn làm mỗi ngày, nhưng tôi nghĩ: Các người cứ việc tuôn những lời sáo rỗng đi. Sự thật rành rành ra đấy, giống như váng dầu nổi trên mặt nước. Sách Maimonides đã nói điều tôi làm là đúng, thì nó đúng!
Tối đến, khi ủ xong chỗ bột, tôi lấy một phần bánh mì và một bịch nhỏ bột mì rồi đi về nhà. Mặt trăng tròn vành vạnh và sao trời lấp lánh, một cái gì đó bỗng làm tôi ớn lạnh. Tôi bước vội, bóng tôi ngả dài về phía trước. Mùa đông đã đến, và những bông tuyết tinh khôi bắt đầu rơi. Tôi định cất tiếng hát, nhưng đã khuya và tôi không muốn đánh thức mọi người. Rồi tôi muốn huýt sáo, nhưng tôi nhớ rằng không nên huýt sáo vào ban đêm vì nó sẽ gọi ma quỷ đến. Vì vậy, tôi im lặng và bước nhanh về nhà.
Lũ chó ở xóm Thiên Chúa giáo sủa inh ỏi khi tôi đi qua, nhưng tôi nghĩ: cứ sủa cho rụng hết răng đi! Bọn mày là gì nếu không phải là chó? Trong khi đó, tao là một thằng đàn ông, là chồng của một người vợ tốt, là cha của những đứa trẻ đầy triển vọng.
Khi tôi về đến gần nhà tim tôi bắt đầu đập mạnh như thể thằng ăn trộm. Tôi không hề cảm thấy sợ hãi, nhưng tim tôi cứ thình thịch. Ôi, không thể quay lại được nữa rồi. Tôi lặng lẽ nâng chốt và bước vào.
Elka đã ngủ. Tôi nhìn cái nôi của đứa trẻ sơ sinh. Nó đã được giăng màn, nhưng ánh trăng rọi qua các khe hở. Tôi nhìn thấy khuôn mặt đứa trẻ và mến nó ngay khi nhìn thấy – mến ngay lập tức – mến từng chi tiết.
Rồi tôi đến gần giường. Và những gì tôi thấy là gã học việc nằm đó, ngay cạnh Elka. Mặt trăng như rơi xuống. Trời đất tối sầm, và tôi run lên. Tôi nghiến răng ken két. Bánh mì rơi khỏi tay tôi, vợ tôi giật mình thức giấc: "Ai đấy?"
Tôi lẩm bẩm "Là tôi."
"Gimpel?" Cô ta hỏi. "Làm thế nào mà anh lại ở đây? Tôi nghĩ là anh không được phép."
"Giáo sĩ đã cho phép" tôi trả lời và run như lên cơn sốt.
"Nghe này, Gimpel," cô ta nói, "hãy ra ngoài chuồng xem con dê có ổn không. Hình như nó bị ốm." Tôi đã quên kể rằng chúng tôi có một con dê. Khi nghe nói nó không được khỏe tôi liền đi về phía sân. Con dê cái này là một con vật tốt. Tôi cảm thấy nó gần gũi như con người vậy.
Với bước chân trĩu nặng, tôi đi về phía nhà kho và mở cửa. Con dê đang đứng. Tôi sờ khắp người nó, kéo sừng nó lại, kiểm tra vú nó, và thấy chẳng có gì bất ổn cả. Có lẽ nó ăn vỏ cây quá nhiều. "Chúc mày ngủ ngon, dê con," tôi nói. "Giữ sức khoẻ nhé." Và con vật nhỏ trả lời một tiếng "Maa" như để cảm ơn tôi vì lời chúc tốt lành.
Tôi quay vào nhà. Gã học việc đã biến mất.
"Hắn đâu rồi," tôi hỏi, "cái gã kia?"
"Gã nào?" Vợ tôi trả lời.
"Ý cô là gì?" Tôi nói. "Gã học việc. Cô đã ngủ với hắn ta."
"Những điều tôi đã mơ tối nay và tối qua," cô ta nói, "chúng có thể trở thành sự thật và đánh gục anh, thể xác và tâm hồn! Một linh hồn ma quỷ đã bắt rễ trong anh và làm mờ mắt anh "Cô ta hét lên," Anh là đồ đáng ghét. Đồ đần độn! Đồ ma quỷ! Đồ thô lỗ! Cút đi, nếu không tôi sẽ gào lên cho cả Frampol thức giấc!"
Trước khi tôi có thể quay đi, thằng em trai của cô ta lù lù xuất hiện từ phía sau bếp lò và cho tôi một cú trời giáng vào sau đầu. Tôi chắc mẩm hắn đã làm tôi gãy cổ. Tôi cảm thấy mình đã làm một điều gì đó vô cùng sai, và tôi nói, "Đừng có rùm beng lên. Tất cả những gì cần thiết bây giờ là mọi người sẽ buộc tội tôi đã đánh thức những hồn ma bóng quỷ". Vì đó là những gì cô ta muốn. "Không ai được chạm vào bánh mì nướng của tôi."
Tóm lại, bằng cách nào đó tôi làm cho cô ta bình tĩnh trở lại.
"Thôi," cô ta nói, "đủ rồi. Nằm xuống, và đừng có động đậy."
Sáng hôm sau tôi gọi gã học việc sang. "Nghe đây, người anh em!" Tôi nói. Và tôi nói hết mọi chuyện. "Anh nói gì thế?" Hắn ta nhìn chằm chằm vào tôi như là tôi vừa từ trên trời rơi xuống.
"Tôi xin thề," hắn nói, "anh nên đi khám một bác sĩ đông y hoặc một ông thầy lang nào đó. Tôi e rằng anh bị chạm mạch đâu đó, nhưng tôi sẽ giữ kín chuyện này cho anh". Và mọi việc dừng lại ở đó.
Xin được rút ngắn câu chuyện dài này, tôi đã sống hai mươi năm với vợ. Cô ta sinh cho tôi sáu đứa con, bốn gái và hai trai. Tất cả mọi chuyện trên đời đều đã xảy ra, nhưng tôi hoặc là không thấy hoặc không nghe. Tôi tin, và đó là tất cả. Gần đây Giáo sĩ nói với tôi, "Chính niềm tin là một điều tốt. Sách viết rằng một người đàn ông tốt sống bởi niềm tin của mình."
Rồi đột nhiên vợ tôi lâm bệnh. Đầu tiên là một cơn đau vặt, một khối u nhỏ nơi vú. Nhưng rõ ràng cô ta không sống được lâu nữa, cô ta chạy đua với tử thần. Tôi tốn khá nhiều tiền cho cô ta. Tôi đã quên kể rằng giờ đây tôi đã có một tiệm bánh riêng và ở Frampol điều này đồng nghĩa với việc tôi là một người giàu có. Ngày nào thầy thuốc cũng ghé nhà thăm bệnh, và tất cả thầy lang ở các vùng lân cận đều đã được mời đến. Họ quyết định dùng đỉa, và sau đó cố sử dụng phương pháp giác hút. Họ thậm chí còn mời một bác sĩ từ Lublin, nhưng đã quá muộn. Trước khi chết, cô ta gọi tôi đến giường và nói: "Hãy tha thứ cho tôi, Gimpel.”
Tôi nói, "Có gì mà phải tha thứ? Bà là một người vợ tốt và chung thuỷ"
"Gimpel tội nghiệp", cô ta nói. "Tôi thật là xấu xa vì đã lừa dối ông suốt những năm qua. Tôi muốn đấng Tạo hoá rửa sạch tội lỗi của tôi, vì vậy tôi phải nói cho ông biết rằng bọn trẻ không phải là con đẻ của ông.''
Tôi nghe như sét đánh ngang tai.
"Ai?" Tôi hỏi.
"Tôi không biết", cô ta nói. "có rất nhiều, nhưng chúng không phải con ông." Nói xong cô ta gục đầu sang một bên, mắt cô ta đờ đẫn và mọi chuyện kết thúc với Elka. Trên đôi môi trắng nhợt của cô ta vẫn còn vương nụ cười.
Tôi hình dung rằng khi chết rồi cô ta còn như muốn nói, "Tôi đã lừa được Gimpel. Đó là ý nghĩa của cuộc đời ngắn ngủi của tôi "

(còn tiếp)





[i] Maimonides (1135-1204) là người Do Thái sống tại Tây Ban Nha, di cư qua Ai Cập và làm đến chức thầy thuốc tại triều đình này. Maimonides là một học giả uyên thâm về Do Thái giáo, đã hiệu đính các lề luật Talmud bằng cuốn Minesh Torah và đã đề cập tới 613 điều răn rút từ Kinh Torah và những điều răn này đã là căn bản của đức tin và luật Do Thái giáo.

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Isaac Bashevis Singer- Gimpel ngốc nghếch 2


2
Tối đó tôi mò vào giường vợ, nhưng cô ta không cho tôi vào. "Cô nói đi, thế này mà là hôn nhân hả?" Tôi nói. Cô ta đáp, "Tôi đến tháng", "Nhưng hôm qua người ta đã làm lễ tẩy trần cho cô rồi, chẳng lẽ ngay hôm sau lại đến tháng của cô sao?". "Hôm nay không phải là hôm qua," cô ta nói, "và hôm qua cũng chả phải hôm nay. Anh cứ việc biến đi nếu không thích". Tóm lại là tôi phải chờ.
Chưa đầy bốn tháng sau đó, cô ta chuyển dạ. Dân chúng trong thị trấn xì xầm chế giễu. Nhưng tôi có thể làm gì được? Cô ta đau không thể chịu đựng nổi và cào cấu lên tường. "Gimpel," cô ta gào lên, "Em sắp rồi. Tha cho em!" Nhà tôi đầy phụ nữ! Họ nấu nước sôi. Những tiếng gào thét thấu trời.
Những gì tôi phải làm lúc này là đi đến nhà nguyện đọc kinh.
Mọi người vô cùng thích thú với điều đó. Tôi đứng ở một góc đọc kinh và cầu nguyện, họ lắc đầu nhìn tôi. "Hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện đi!" Họ bảo tôi. "Cầu nguyện không bao giờ làm bất cứ phụ nữ nào mang thai." Một người trong cộng đoàn đặt một cọng rơm vào miệng tôi và nói: "Cỏ cho bò." Lạy Chúa, đã có điều gì đó xảy ra!
Cô ta sinh một bé trai. Vào thứ Sáu tại giáo đường, người quản lý đứng lên phía trước cái tráp đựng Pháp điển, vỗ lên bàn đọc sách thánh và thông báo, Reb Gimpel hào phóng mời cộng đoàn đến dự tiệc mừng con trai "Mọi người cười ồ lên. Mặt tôi đỏ bừng. Nhưng tôi không thể làm gì. Cuối cùng, tôi là người chịu trách nhiệm cho các nghi thức tôn giáo và lễ cắt bao quy đầu cho đứa trẻ.
Nửa thị trấn đã đến dự tiệc. Đông đến nỗi không còn chỗ chen chân. Phụ nữ mang đậu hồi rắc tiêu, và một thùng bia được mang đến từ quán rượu. Tôi ăn uống no nê như mọi người, và tất cả chúc mừng tôi. Sau đó là lễ cắt bao quy đầu, và tôi cho thằng bé mang tên bố tôi, cầu mong ông được yên nghỉ. Khi moi người đã ra về và chỉ còn hai vợ chồng chúng tôi, cô ta thò đầu ra khỏi màn giường và gọi tôi vào.
"Gimpel," cô ta gọi "sao anh im như thóc thế? Anh bị câm à?"
"Tôi sẽ nói gì đây?", Tôi trả lời. "Cô vừa làm cho tôi một thứ thật là hay ho nhỉ! Nếu mẹ tôi mà biết được chắc bà ấy chết thêm lần nữa."
Cô ta nói, "Anh điên hay sao?"
"Làm thế nào mà cô có thể biến tôi thành một thằng ngốc," tôi nói, "một người là thầy và là chủ của cô?"
"Anh bị làm sao thế?", Cô ta nói. "Anh có ý nghĩ hoang đường gì vậy?"
Tôi thấy mình cần huỵch toẹt mọi chuyện. "Cô nghĩ rằng đây là cách để đối xử với một kẻ mồ côi à?" Tôi nói. "Cô vừa sinh một đứa con hoang".
Cô ta trả lời, "Hãy vứt bỏ cái ý nghĩ ngu ngốc đó đi. Đứa trẻ là con của anh".
"Làm thế nào mà nó có thể là con của tôi?" Tôi cãi. "Nó được sinh ra sau ngày cưới chỉ mười bảy tuần."
Cô ta bảo tôi rằng nó bị sinh non. Tôi hỏi, "Nó không quá non chứ?" Cô ta kể rằng bà nội cô ta còn sinh sớm hơn và cô ta giống bà như hai giọt nước. Cô ta thề với những lời lẽ mà bạn đã có thể tin như tin lời thề một bà hàng rau ở chợ vậy. Tóm lại là tôi chả tin lời cô ta, nhưng qua ngày hôm sau, khi tôi kể chuyện này với thầy giáo, ông đã nói với tôi rằng điều này rất giống với Adam và Eve. Hai người họ lên giường, và khi xuống là bốn người.
"Không có người phụ nữ nào trên đời này mà không phải là con cháu của Eve cả", ông bảo.
Thì ra là thế, lập luận của họ làm tôi cứng họng. Nhưng ai mà biết được sự thực nó như thế nào?
Tôi bắt đầu quên đi nỗi buồn phiền. Tôi yêu thằng bé tha thiết, và nó cũng yêu tôi. Mỗi khi nhìn thấy tôi là nó vẫy vẫy bàn tay nhỏ bé và đòi tôi bế, khi nó bị đau bụng, tôi là người duy nhất có thể làm nó yên lòng. Tôi mua cho nó một chiếc vòng nhỏ bằng xương răng thú và một chiếc mũ nhỏ mạ vàng. Nó luôn bị ma ám, và tôi đã phải chạy đi kiếm những câu thần chú để giúp nó thoát khỏi điều đó. Tôi đã làm việc quần quật như trâu. Bạn biết đấy, chi tiêu sẽ tăng lên như thế nào khi có thêm một đứa trẻ trong nhà. Tôi không muốn nói dối về nó, cũng không phải tôi không thích Elka về điều đó. Cô ta nguyền rủa tôi và thường xuyên cáu bẩn, còn tôi thì không thể chịu nổi cô ta. Cô ta thật là sắc sảo! Một cái nhìn của cô ta có thể làm tôi chả thể nào mở miệng được. Và lời lẽ của cô ta nữa! Đầy những thứ tục tĩu và hôi hám, nhưng không hiểu sao lại đầy lôi cuốn. Tôi yêu mến từng lời nói của cô ta. Dẫu cô ta gây cho tôi những vết thương gỉ máu.
Vào buổi tối, tôi mang cho cô ta một ổ bánh mì trắng hoặc một ổ bánh mì đen, cùng với nhân trái cây do tôi tự nướng lấy. Tôi ăn cắp vì cô ta và thó mọi thứ trong tầm tay mình: bánh hạnh nhân, nho khô, quả hạnh nhân, bánh ngọt. Tôi hy vọng được tha thứ vì đã ăn cắp từ mấy cái giỏ mà các bà các cô để lại hấp trên lò vào ngày Thứ bảy. Tôi lấy một mẩu thịt, một đoạn bánh pudding, một cái chân hoặc một cái đầu gà, một miếng lòng bò, bất cứ thứ gì tôi có thể xoáy một cách lẹ làng. Cô ta ních hết, trở nên phổng phao và đẹp ra.
Tôi phải ngủ tại tiệm bánh cả tuần. Vào những tối Thứ sáu khi tôi về nhà, cô ta luôn nại đủ cớ để tránh gần gũi tôi. Hoặc là cô ta mắc chứng ợ nóng, hoặc xóc hông, hoặc bị nấc, hoặc nhức đầu. Ôi thôi là những lý do của phụ nữ! Suốt một thời tôi cay đắng vì điều đó. Thật là khổ sở. Thêm vào đó, em trai của cô ta, cái thằng con hoang đó càng ngày càng lớn. Nó cứ choảng tôi sưng vù, và mỗi khi tôi muốn đánh lại nó thì cô ta ngoác miệng chửi tôi không tiếc lời đến nỗi tôi như thấy một đám mây mù màu xanh lục vần vũ trước mắt. Mười lần một ngày, cô ta đe dọa sẽ ly dị tôi. Một người đàn ông khác ở vào vị trí của tôi có lẽ đã cao chạy xa bay. Nhưng tôi là loại người cam chịu và ít lời. Biết làm sao bây giờ? Chúa ban cho đôi vai, và cả gánh nặng nữa.
Một đêm có một sự cố ở tiệm bánh, cái lò phát nổ, và tiệm bánh bị cháy. Chả có gì để làm ngoài việc phải về nhà, vì thế tôi đi về. Tôi nghĩ, coi như được hưởng niềm vui khi ngủ trên giường nhà mình vào ngày giữa tuần vậy. Tôi không muốn đánh thức em bé đang ngủ say và bước rón rén vào nhà. Vào đến giường, dường như tôi nghe không phải một tiếng ngáy, mà là hai tiếng, một tiếng bình thường và tiếng kia nghe như tiếng của một con bò bị giết mổ. Ồ, tôi chả thích điều đó! Chả thích một chút nào. Tôi lại giường, và trời đất như sập đổ dưới chân tôi. Nằm bên cạnh Elka là thân hình của một gã đàn ông. Nếu là người khác có lẽ đã lồng lộn, và rùm beng lên đủ để khuấy động cả thị trấn, nhưng một ý nghĩ vụt đến trong tôi rằng làm như thế có thể đánh thức em bé. Một điều nhỏ nhặt như thế- sao phải làm hoảng sợ một chú chim bé nhỏ, tôi nghĩ. Rồi sau đó, tôi quay lại tiệm bánh và nằm dài trên một bao bột cho đến sáng mà không chợp mắt. Tôi rùng mình như thể lên cơn sốt rét. "Biến thành một con lừa là đủ lắm rồi", tôi tự nhủ. "Gimpel sẽ không phải là một kẻ ngốc suốt đời. Phải có một giới hạn thậm chí với sự ngu xuẩn của một kẻ ngốc như Gimpel ".
Sáng hôm sau tôi đến chỗ giáo sĩ để có được lời khuyên, và điều đó đã gây chấn động lớn trong thị trấn, họ cho gọi Elka đến ngay lập tức. Cô ta đến, mang theo đứa trẻ. Và bạn nghĩ cô ta sẽ làm gì? Cô ta chối bỏ, phủ nhận mọi thứ, tất tần tật! "Anh ta bị mất trí rồi", cô ta nói. "Tôi chả biết gì về những giấc mơ hay những lời tiên tri cả." Họ hét vào mặt cô ta, cảnh cáo cô ta, gõ búa trên bàn, nhưng cô ta vẫn ngoan cố: đó là một lời buộc tội sai, cô ta nói.
Bọn hàng thịt và đám buôn ngựa vào hùa với cô ta. Một trong những gã đến từ lò mổ nói với tôi, "Chúng tao đã để ý đến mày rồi, mày là một thằng có tì vết". Trong khi đó, đứa trẻ bắt đầu đòi xuống và bôi bẩn. Trong tòa án giáo sĩ có tráp đựng Pháp điển, và họ không thể chấp nhận điều đó, vì vậy họ để Elka đi.
Tôi nói với giáo sĩ. "Tôi phải làm gì?"
"Cậu phải ly dị cô ta ngay", ông nói.
"Nếu cô ta từ chối thì sao?" Tôi hỏi.
Ông ta nói. "Cậu phải lo liệu việc ly hôn. Đó là tất cả những gì cậu sẽ phải làm."
Tôi nói, "Vâng, được thôi Giáo sĩ. Để tôi suy nghĩ về điều đó."
"Không có gì phải suy nghĩ cả", ông ta nói. "Cậu không thể tiếp tục sống cùng một nhà với cô ta."
"Và nếu tôi muốn gặp đứa trẻ?" Tôi hỏi.
"Hãy để cô ta đi, đồ lăng loàn”, ông ta nói, "cùng với lũ con hoang của cô ta"
Phán quyết của ông ta là tôi không bao giờ được bước qua ngưỡng cửa nhà cô ta, cho đến khi nào tôi còn sống.
Ban ngày điều đó không làm tôi phiền muộn nhiều. Tôi nghĩ: Điều gì đến đã đến, u nhọt đã vỡ. Nhưng vào ban đêm khi nằm dài trên đống bao bột, tôi cảm thấy thật cay đắng. Một nỗi chua xót trào dâng trong tôi, vì cô ta và vì đứa trẻ. Tôi muốn tức giận, nhưng thật bất hạnh cho tôi, trong con người tôi không có điều đó, để mà được thực sự nổi giận. Đầu tiên là sự suy xét của tôi đôi khi dẫn đến sai lầm. Người ta không thể sống mà không có lỗi lầm. Có lẽ cái gã đã ở với cô ta đã dụ dỗ và tặng quà cho cô ta, sao lại không, và phụ nữ thường rất nhẹ dạ, vì vậy hắn cứ lẩn quẩn quanh cô. Thứ nữa, vì rằng cô ta cứ phủ nhận điều đó, có lẽ tôi chỉ nhìn thấy vẻ bề ngoài? Do ảo giác gây ra. Ta nhìn thấy bóng dáng, hình thù hoặc một thứ gì đó, nhưng khi đến gần thì không có gì, chẳng có thứ gì ở đó. Và nếu đúng như thế, tôi đang đối xử bất công với cô ta. Và càng suy nghĩ thêm về điều đó, tôi bật khóc. Tôi khóc nức nở đến nỗi làm ướt nhẹt đám bột nơi tôi nằm. Sáng hôm sau, tôi đến chỗ giáo sĩ và nói với ông rằng tôi đã phạm sai lầm. Giáo sĩ viết bằng cây bút lông ngỗng, và ông nói rằng nếu sự thể đã như vậy thì ông sẽ phải xem xét lại toàn bộ vụ việc. Cho đến khi ông giải quyết xong, tôi không được đến gần vợ, nhưng tôi có thể nhờ người mang bánh và tiền bạc cho cô ta.

(còn tiếp)

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Isaac Bashevis Singer- Gimpel ngốc nghếch 1


Người dịch: Ngô Thanh Tuấn

Isaac Bashevis Singer (14/7/1904 – 24/7/1991) là nhà văn Mỹ gốc Do Thái Ba Lan đoạt giải Nobel Văn học năm 1978.
Isaac Basevic Singer, sinh ở Radzymin, Đế chế Nga (nay là Ba Lan) trong gia đình có 4 người con. Bố là người sùng tín Do Thái giáo thần bí, mẹ ở nhà làm nội trợ. Năm lên 4 tuổi, gia đình chuyển về Warszawa và I.B. Singer vào học ở trường dòng, ông bắt đầu say mê đọc các sách chính trị, kinh tế và văn học cổ điển Nga thế kỉ XIX. Năm 13 tuổi, I.B. Singer theo mẹ về quê ngoại ở miền Đông Ba Lan, nơi phong cảnh thiên nhiên cũng như cuộc sống con người vẫn còn giữ được khá đầy đủ những nét cổ xưa của thời Trung cổ. Năm 1923 I.B. Singer quay về Warszawa làm người chữa bản in cho tạp chí Literarische Bletter. Thời gian này ông nghiên cứu triết học, ngôn ngữ, tâm lí học, các môn khoa học tự nhiên và bắt đầu thử viết văn. Năm 1927 tạp chí Literarische Bletter đăng 2 truyện ngắn đầu tay Tuổi già”  Người đàn bà của ông, những năm sau đó ông tiếp tục viết truyện ngắn, dịch các tiểu thuyết hình sự Đức và các tác phẩm của Knut Hamsun, Thomas Mann.
Tiểu thuyết đầu tay Quỷ Sa tăng ở Goray” của I.B. Singer đăng tải trên một tạp chí trong suốt năm 1934, in thành sách năm 1943, được các nhà phê bình đánh giá cao. Khi đảng Quốc xã lên nắm quyền ở Đức, I.B. Singer sang Mỹ định cư. Tại đây, ông cộng tác với nhật báo tiếng Yiddish phát hành ở New York là Jewish Daily Forward và tiếp tục viết văn. I.B. Singer bắt đầu nổi tiếng khi tiểu thuyết Gia đình Mushkat” (1945-1948) được dịch sang tiếng Anh (1950). Đặc biệt là sau khi tạp chí Partisan Review đăng truyện ngắn Gimpel ngốc nghếch” qua bản dịch của Saul Bellow thì I.B. Singer chính thức được thừa nhận. 
Độc giả Việt Nam đã có dịp làm quen với I.B. Singer từ trước năm 1975 ở miền Nam qua một số bản dịch các tiểu thuyết bởi dịch giả Hà Thúc Sinh: “Tình Em Vỗ Cánh” (Magician of Lublin), NXB Kỷ Nguyên Mới, 1973; “Người Nô Lệ” (The Slave), NXB Kỷ Nguyên Mới, 1973; “Kiếp Người Cô Quạnh” (The Manor), NXB Kỷ Nguyên Mới, 1974. Sau năm 1975, tiểu thuyết “Tìm lại người tình năm xưa” (The Slave) được dịch giả Lê Thanh chuyển ngữ, NXB Tổng hợp Sông Bé xuất bản năm 1989; và một số truyện ngắn của I.B. Singer được dịch, đăng trên tạp chí Sông Hương, Tạp chí Văn và các tuyển tập truyện ngắn.
Truyện ngắn “Gimpel ngốc nghếch” được I.B. Singer viết năm 1953, Saul Bellow (Giải Nobel văn học năm 1976) dịch sang tiếng Anh và đăng cùng năm trên tờ Partisan Review. Đây là một trong những tác phẩm đáng chú ý và tiêu biểu nhất về thể loại truyện ngắn của I.B. Singer. Với câu chuyện này, S. Bellow đã góp công nâng tầm văn nghiệp của I.B. Singer mà kết quả là giải Nobel Văn học năm 1978. Cũng giống như hầu hết các sáng tác trong thời kỳ đầu của mình, I.B. Singer viết câu chuyện này bằng tiếng Yiddish, và đề tài người Do Thái tìm kiếm bản ngã về đức tin và hướng đi trong một thế giới tàn bạo được khám phá dưới hình thức dụ ngôn với các chi tiết cường điệu phổ biến trong truyện dân gian. Các nhà phê bình ca ngợi nhân vật Gimpel như một điển hình về “nhân vật đáng thương”- một người ngốc nghếch, bất hạnh thường thấy trong truyền thuyết Do Thái- mà sự dại dột được phác hoạ để chuyển tải một bài học về đạo đức.

1
Tôi là Gimpel ngốc nghếch. Tôi không nghĩ mình là một thằng ngốc. Ngược lại là đằng khác. Nhưng đó là những gì mà người ta gán cho tôi. Bọn họ đã đặt biệt danh cho tôi ở trường. Tôi đã có cả thảy bảy biệt danh: thằng đần, thằng thộn, thằng đầu đất, thằng phê thuốc, thằng đoảng, thằng ngờ nghệch, thằng ngốc nghếch. Và cái cuối cùng gắn chết với tôi. “Thế thì tôi ngốc nghếch chỗ nào?” Tôi rất dễ bị gạt. Bọn họ nói, "Gimpel, mày có biết vợ của giáo sĩ được đưa lên bàn đẻ rồi không?" Thế là tôi nghỉ học. Ừ, thì đó là lời nói dối. Nhưng sao tôi cần phải biết chuyện đó? Bà ta không to bụng. Nhưng tôi có bao giờ nhìn bụng bà ta. Như thế thực sự là ngốc nghếch ư? Bọn họ cười hô hố, nhảy nhót ầm ĩ và hát vang bài kinh nguyện cuối ngày. Và thay vì gửi tặng nho khô cho bà bầu lúc lâm bồn, họ nhét đầy phân dê vào tay tôi. Tôi không yếu đuối. Nếu tôi tát một đứa trong bọn chúng, ắt nó sẽ văng đến tận Cracow[i]. Nhưng bản tính tôi không ưa đấm đá. Tôi tự nhủ: Thôi bỏ qua. Vì thế, bọn chúng càng lấn tới.
Đang trên đường đi học về thì tôi nghe tiếng chó sủa. Tôi chẳng sợ chó, nhưng dĩ nhiên là cũng chẳng muốn dây dưa với chúng. Lỡ trong đám ấy có con nào bị dại, mà chẳng may bị nó cắn thì không một thầy lang người Tartar nào chữa khỏi. Vì vậy, tôi co cẳng chạy. Rồi tôi nhìn quanh và thấy cả khu chợ cười ầm. Chả có con chó nào cả mà là thằng Wolf-Leib đạo chích. Sao mà tôi biết là thằng đó? Giọng hắn y như tiếng chó tru.
Cái đám hay chơi khăm và bọn ưa lừa lọc thấy tôi rất dễ bị gạt nên đứa nào trong bọn chúng cũng cố thử vận may với tôi. “Gimpel, Nga hoàng ngự giá đến Frampol kìa; Gimpel, trăng rơi xuống Turbeen đấy; Gimpel, nhóc Hodel Furpiece tìm thấy một kho báu đằng sau nhà tắm." Và tôi giống như một con golem[ii] tin lời tất cả bọn chúng. Thứ nhất, mọi điều đều có thể xảy ra, như nó được viết trong Sách khôn ngoan, mà tôi đã quên mất cụ thể thế nào rồi. Thứ hai, tôi phải tin khi mà cả thị trấn đều nhằm vào tôi! Nếu tôi dám nói, "A các người đang trêu tôi!" lập tức tôi sẽ gặp phiền phức. Mọi người nổi giận. "Mày nói thế là có ý gì! Mày muốn gọi tất cả mọi người là kẻ dối trá à?" Vậy tôi phải làm gì đây? Chỉ còn cách tin họ, và tôi hy vọng ít nhất là điều đó cũng có ích đối với họ.
Tôi là một thằng mồ côi. Ông nội tôi- người đã nuôi tôi lớn- giờ đã yên nghỉ dưới ba thước đất. Vì vậy, người ta gửi tôi vào một tiệm bánh mì, và quả là một khoảng thời gian kinh khủng cho tôi khi ở đó! Các bà hay các cô đến nướng bánh đều trêu tôi. "Gimpel, có hội chợ ở thiên đường; Gimpel, ông giáo sĩ đã sinh một con bê khi mang thai được bảy tháng; Gimpel, một con bò đang bay trên mái nhà và đẻ ra trứng bằng đồng." Có lần, một sinh viên học viện Yeshiva ghé vào mua một ổ bánh mì và nói, "Gimpel, trong khi cậu đứng đây cào những mẻ bánh mì thì Đấng Cứu Thế ngự đến. Người chết đã sống lại." "Ý anh là gì?" Tôi nói. "Tôi không nghe ai thổi tù và cả!" Anh ta nói, "Anh điếc à?" Và mọi người bắt đầu gào lên, "Chúng tôi nghe, chúng tôi có nghe!" Rồi đến lượt bà Rietze thợ nến đi vào với cái giọng khàn khàn "Gimpel, cha mẹ cậu đã đội mồ sống dậy. Họ đang đi tìm cậu đấy".
Nói thật, tôi biết rõ chả có gì xảy ra, nhưng cũng như mọi khi, lúc mọi người đang nói, tôi cởi áo khoát và chạy ra ngoài. Có lẽ có điều gì đó xảy ra. Chắc tôi bỏ lỡ điều gì chăng? Ồ, thì ra là tôi bị mắc nỡm. Từ đó tôi thề rằng sẽ chẳng tin điều gì nữa. Nhưng điều đó chả ăn thua. Họ cứ làm tôi rối tinh rối mù cả lên chẳng biết đầu cua tai nheo ra sao nữa.
Tôi đến gặp giáo sĩ xin vài lời khuyên. Ông nói, "Sách đã dạy, thà cả đời ngốc nghếch còn hơn một giờ làm điều ác. Nhưng con không phải là một kẻ ngốc mà bọn họ mới là những kẻ ngốc. Ai làm cho những người xung quanh mình phải xấu hổ thì kẻ đó không được lên thiên đàng". Tuy nhiên, cô con gái giáo sĩ đã cho tôi vào tròng. Khi tiễn tôi về, cô ta hỏi tôi "Anh đã hôn vào tường chưa?". Tôi đáp, "Chưa, mà để làm gì?". Cô ta trả lời, "Đó là luật, anh phải làm điều đó sau mỗi lần ghé thăm bố tôi" Ừ, thì có mất mát gì đâu. Rồi cô ta phá lên cười ngặt nghẽo. Đó là một cú lừa ngoạn mục. Cô ta đã lừa tôi, thật hoàn hảo.
Tôi muốn đến một thị trấn khác, nhưng rồi tất cả mọi người cố mai mối cho tôi, và họ cứ bám theo tôi dai như đỉa. Họ lải nhải rót mật vào tai tôi. Cái cô kia chả còn trong trắng, nhưng họ nói rằng cô ta là gái trinh. Cô ta đi cà nhắc, và họ nói rằng cô ta cố tình ra vẻ e lệ. Cô ta có một đứa con hoang, và họ nói rằng thằng bé là em trai cô ta. Tôi gào lên, "Các người rảnh hơi quá. Tôi sẽ không bao giờ cưới ả điếm đó đâu". Họ phẫn nộ, "Cậu nói hay thật! Cậu không thấy tự xấu hổ à? Chúng tôi có thể đưa cậu đến chỗ giáo sĩ và lúc đó cậu sẽ bị phạt vì đã nói xấu cô ta." Cảm thấy sẽ không dễ thoát khỏi bọn họ, tôi nghĩ: Họ quyết tâm biến tôi thành trò cười của họ. Nhưng khi đã kết hôn thì người chồng là chủ, và nếu cô ta không phản đối thì tôi cũng sẵn sàng đồng ý. Bên cạnh đó, bạn không thể trải qua một cuộc sống mà không bị tổn thương, dù chả mong muốn điều đó chút nào.
Tôi đến ngôi nhà đất của cô ta, nó được dựng trên cát, theo sau tôi là một đám người vừa la hét vừa đồng thanh reo hò. Họ hành động như chơi trò trêu gấu. Khi đến chỗ cái giếng, họ đồng loạt dừng lại. Họ sợ phải gây chuyện với Elka. Mồm cô ả sẵn sàng ngoác ra và lưỡi cô ả không kém phần độc địa. Tôi bước vào nhà. Dây nhợ căng chằng chịt quanh tường để phơi quần áo. Cô ả đứng chân trần và đang rửa chén bát nơi bồn. Ả khoác chiếc áo choàng nhung đã sờn nhặt được của ai đó. Mái tóc ả thắt bím búi ngang trên đầu. Tôi muốn nín thở. Một mùi nồng nặc tỏa khắp nhà.
Rõ ràng ả biết tôi là ai. Ả quay sang nhìn tôi và nói, "Xem ai đây này! Anh đã đến, anh chàng khó chịu. Ngồi đi."
Tôi đã kể toàn bộ cho cô ả, tôi không phủ nhận điều gì. "Thật lòng nhé." Tôi nói, "Cô thực sự là gái trinh, và thằng nhóc Yechiel tinh nghịch là em trai của cô? Đừng có lừa dối tôi, vì tôi là một kẻ mồ côi."
"Chính tôi cũng là một kẻ mồ côi", cô ả trả lời, "và ai cố dắt anh thì rồi họ cũng bị xỏ mũi lại thôi. Nhưng đừng để họ nghĩ rằng họ có thể lợi dụng tôi. Tôi muốn hồi môn là năm mươi guilders và để cho bọn họ mở cuộc quyên góp thêm nữa. Nếu không, bảo họ hôn mông tôi đi" Cô ả thẳng thừng. Tôi nói, "Cô dâu chứ không phải chú rể mới là người để lại của hồi môn" Ả đốp chát, "Đừng mặc cả với tôi. Hoặc "có", hoặc "không", hoặc là biến về cái nơi anh xuất phát."
Tôi nghĩ: chả có bánh mì nào được nướng từ chỗ bột này. Nhưng chỗ chúng tôi không phải là một thị trấn nghèo. Họ đồng ý mọi thứ và tiến hành đám cưới. Có một chút phiền toái là lúc này đang xảy ra dịch lỵ. Hôn lễ được tổ chức tại cổng nghĩa địa, gần cái nhà liệm xác. Mấy gã đàn ông thì say mèm. Trong khi hôn ước được soạn tôi nghe giáo sĩ cao cả mộ đạo nhất hỏi, “Cô dâu là góa phụ hay là một phụ nữ ly dị chồng?" Và bà vợ của người coi nghĩa trang trả lời thay cho cô ả, "Vừa góa vừa ly dị." Thật là đen đủi cho tôi. Nhưng tôi phải làm gì đây, chả lẽ chạy trốn ngay trong ngày cưới?
Họ ca hát và nhảy múa. Một bà cụ nhảy cặp với tôi, ôm một ổ challah[iii] trắng. Người chủ hôn hát bài kinh "Tạ ơn" để tưởng nhớ bố mẹ cô dâu. Bọn nam sinh hát theo phát ra những âm 'r' rung, giống như trong ngày lễ Tisha B'Av[iv]. Có rất nhiều quà tặng sau bài thuyết pháp: một khay đựng mì, một thố để trộn, thùng, chổi, vá, cả đống đồ gia dụng. Rồi tôi thấy hai thanh niên lực lưỡng khiêng một giường cũi. "Chúng tôi cần quái gì thứ này?" Tôi hỏi. Họ nói, "Đừng nhọc óc về nó. Ổn cả, nó sẽ có ích đấy". Tôi nhận ra tôi sắp sửa bị lừa. Nói cách khác, tôi đâu còn gì để mất? Tôi phản ứng: Để xem điều gì sẽ diễn ra. Chả nhẽ cả cái thị trấn này đều phát rồ.

(còn tiếp)




[i] Ý tác giả muốn nói đến thành phố cổ Krakow ở Ba Lan, nơi có trại tập trung rất lớn thời Đức Quốc Xã- Krakow Ghetto- nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với bất kì người Do Thái Ba Lan nào.
[ii] golem: là nhân vật trong truyền thuyết Do Thái được tạo ra từ một chất nào đó bằng phép thuật. Hình tượng golem dùng để chỉ người đần độn, chưa hoàn thiện.
[iii] challah: là ổ bánh mì đặc biệt bện hình xoắn của người Do Thái ăn vào ngày Sabbath và các ngày lễ khác.
[iv] Tisha B'Av: ngày thứ chín trong tháng Av của người Do Thái (thường rơi vào tháng 7 hoặc tháng 8 Tây lịch), là ngày ăn chay để tưởng niệm sự tàn phá Ngôi đền thứ nhất (vào năm 586 trCN) và Ngôi đền thứ hai (năm 70). Ngày nay nó trở thành ngày tưởng niệm cộng đồng cho các biến cố và thảm họa xảy đến với người Do Thái.

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

Isaac Bashevis Singer- Tại sao ông Noah chọn bồ câu?


Khi loài người mắc tội, Thiên Chúa giáng cơn đại hồng thủy để trừng phạt, muôn loài tụ tập quanh chiếc thuyền lớn của ông Noah. Ông Noah là một người công chính và Thiên Chúa đã chỉ cho ông cách tự cứu mình và người thân bằng cách đóng một con thuyền lớn có thể nổi trên mặt nước và che chở họ khi nước dâng lên.
Các loài vật nghe tin ông Noah chỉ nhận loài nào xuất sắc nhất lên thuyền. Vì vậy chúng lũ lượt kéo đến và tranh giành nhau, loài nào cũng khoe khoang về những ưu điểm của mình và cố hạ thấp giá trị của loài khác.
Sư tử rống lên: “Tôi là loài thú mạnh mẽ nhất, tôi chắc chắn phải được bác Noah cứu sống”
Voi ầm ĩ: “Tôi lớn nhất, thân tôi dài nhất, tai tôi to nhất và chân thì nặng nhất”
“To với nặng mà làm gì” cáo gào lên. “Cáo tôi là loài lanh lợi nhất”
“Còn tôi thì sao?”. lừa kêu lên. “Tôi nghĩ là tôi thông minh nhất cơ”
“Ai cũng giỏi ấy nhỉ” chồn hôi lên tiếng cãi lại. “Tôi thính nhất trong các loài đấy nhé. Mùi hương của tôi thì khỏi chê.”
“Bọn các anh chỉ đi lại dưới mặt đất, tôi là loài duy nhất biết leo trèo trên cây”, khỉ hét lên.
“Duy nhất”, gấu gằm ghè chế giễu. “Thế anh nghĩ tôi không làm được gì chắc?”
“Còn tôi thì sao?”, sóc càu nhàu một cách đầy phẫn nộ.
“Tôi thuộc họ nhà cọp đấy nhé!”, mèo gừ lên.
“Còn tôi có họ hàng với bác voi!”, chuột chút chít.
“Tôi khỏe như sư tử và có bộ lông đẹp nhất”, cọp gầm gừ.
“Những vết đốm của tôi được ngưỡng mộ hơn mấy thứ vằn vện của anh”, báo cãi lại.
“Hứ, tôi là bạn thân nhất của con người đấy!”, chó ăng ẳng.
“Anh chả phải là bạn gì sất, anh chỉ giỏi nịnh bợ thôi. Sói tôi tự hào là loài tự lập và chẳng phải nịnh nọt ai cả”, sói tru lên.
“Be e e”, cừu rền rĩ. “Thế nên anh luôn thèm khát. Anh chả cho ai thứ gì nên rốt cuộc chả nhận được gì. Tôi thì cho loài người len và họ chăm sóc tôi.”
“Anh cho len còn tôi thì cho họ mật”, ong vo ve. “Hơn nữa tôi còn có nọc để tự vệ.”
Rắn lên tiếng “Nọc của anh sao mà so với nọc của tôi được. Với lại các anh đâu có gần gũi mặt đất như tôi.”
“Vẫn chưa gần gũi bằng tôi đâu”. Giun đất ngoi đầu khỏi mặt đất phản đối.
“Tôi đẻ trứng”, gà mái cục cục.
“Tôi cho sữa”, bò sữa rống lên.
Trâu cũng không chịu thua: “Tôi giúp con người cày ruộng.”
“Tôi chở được con người”, ngựa hí hí đáp lời. “Mắt tôi cũng to nhất nữa”.
“Mắt anh to nhưng có mỗi hai con, còn tôi thì có nhiều hơn”, ruồi o o rót vào tai ngựa.
“Bọn anh toàn bé tí, sao mà so với tôi được”, hươu cao cổ miệng nhồm nhoàm mấy chiếc lá trên ngọn cây nói vọng xuống.
“Tôi cao như anh này, tôi còn có thể đi trên sa mạc nhiều ngày mà chả cần ăn uống gì”, lạc đà cười sướng khoái.
“Cả hai anh đều lênh khênh, nhưng tôi thì đường bệ”, hà mã khịt khịt. “Tôi dám cá là chả ai trong các anh có mũi to hơn của tôi”.
Cá sấu ngoác miệng “Đừng có tự tin quá thế”.
“Ơ, tôi nói được như người”, vẹt la toáng lên.
“Cái đấy không phải là nói mà là bắt chước tiếng người thôi. Ò ó o o” gà trống gáy lên. “Tôi chỉ biết có mỗi tiếng đấy thôi, nhưng nó là của riêng tôi”.
Dơi rít lên “Tôi nhìn đường bằng tai đấy nhé; tôi bay được bằng cách nghe âm thanh.”
“Đôi cánh tôi biết hát”, dế thỏ thẻ.
Đã có nhiều sinh vật hăm hở thi nhau ca tụng bản thân. Nhưng ông Noah để ý thấy bồ câu đậu một mình trên cành cây và không màng nói chuyện hay tranh luận với các loài khác.
“Sao cậu im lặng?”, ông Noah hỏi. “Cậu không có gì để tự hào à?”
“Tôi nghĩ mình chẳng có gì tốt đẹp, khôn ngoan hay hấp dẫn hơn so với các loài khác”, bồ câu từ tốn đáp. “Mỗi loài chúng tôi đều có thứ mà loài khác không có, được Thiên Chúa- đấng tạo hoá- ban cho”.
“Bồ câu nói đúng”, Ông Noah đáp. “Không nhất thiết phải khoe khoang và tranh luận với nhau. Thiên Chúa đã phán bảo ta đưa tất cả các ngươi lên thuyền, từ gia súc đến thú vật, từ chim muông đến côn trùng.”
Nghe xong, các loài vật vui mừng khôn xiết và quên hết mọi hiềm khích.
Trước khi mở cửa thuyền, ông Noah nói “Ta yêu hết muôn loài, nhưng vì bồ câu luôn khiêm nhường và im lặng trong khi các ngươi khoác lác và tranh cãi, nên ta chọn bồ câu là sứ giả của mình.”
Ông Noah đã giữ lời. Khi mưa tạnh, ông bảo bồ câu bay đi để đưa tin về mọi thứ diễn ra trên khắp thế gian. Cuối cùng nó quay về với một chiếc lá ôliu, và ông Noah biết rằng nước đã rút. Khi mặt đất trở nên khô ráo, ông Noah cùng gia đình và muôn vật rời thuyền.
Sau cơn đại hồng thuỷ, Thiên Chúa hứa rằng sẽ không bao giờ tàn phá trần gian vì tội lỗi của loài người nữa, và từ đó mùa màng, thời tiết, năm tháng, ngày đêm không bao giờ chấm dứt.
Sự thật là có nhiều bồ câu hơn hổ, báo, sói, kền kền và các loài thú dữ khác. Loài bồ câu sống an vui mà không phải tranh giành. Đó là loài chim tượng trưng cho hoà bình.
Dịch từ bản tiếng Anh “Why Noah Chose The Dove” của Elizabeth Shub