Người dịch: Ngô
Thanh Tuấn
Isaac Bashevis Singer (14/7/1904 – 24/7/1991)
là nhà văn Mỹ gốc Do Thái Ba Lan đoạt giải Nobel Văn học năm 1978.
Isaac Basevic Singer, sinh ở Radzymin, Đế chế Nga (nay là Ba Lan) trong gia đình có 4 người con. Bố là người sùng tín Do Thái giáo thần bí, mẹ ở nhà làm nội trợ. Năm lên 4 tuổi, gia đình chuyển về Warszawa và I.B. Singer vào học ở trường dòng, ông bắt đầu say mê đọc các sách chính trị, kinh tế và văn học cổ điển Nga thế kỉ XIX. Năm 13 tuổi, I.B. Singer theo mẹ về quê ngoại ở miền Đông Ba Lan, nơi phong cảnh thiên nhiên cũng như cuộc sống con người vẫn còn giữ được khá đầy đủ những nét cổ xưa của thời Trung cổ. Năm 1923 I.B. Singer quay về Warszawa làm người chữa bản in cho tạp chí Literarische Bletter. Thời gian này ông nghiên cứu triết học, ngôn ngữ, tâm lí học, các môn khoa học tự nhiên và bắt đầu thử viết văn. Năm 1927 tạp chí Literarische Bletter đăng 2 truyện ngắn đầu tay “Tuổi già” và “Người đàn bà” của ông, những năm sau đó ông tiếp tục viết truyện ngắn, dịch các tiểu thuyết hình sự Đức và các tác phẩm của Knut Hamsun, Thomas Mann.
Isaac Basevic Singer, sinh ở Radzymin, Đế chế Nga (nay là Ba Lan) trong gia đình có 4 người con. Bố là người sùng tín Do Thái giáo thần bí, mẹ ở nhà làm nội trợ. Năm lên 4 tuổi, gia đình chuyển về Warszawa và I.B. Singer vào học ở trường dòng, ông bắt đầu say mê đọc các sách chính trị, kinh tế và văn học cổ điển Nga thế kỉ XIX. Năm 13 tuổi, I.B. Singer theo mẹ về quê ngoại ở miền Đông Ba Lan, nơi phong cảnh thiên nhiên cũng như cuộc sống con người vẫn còn giữ được khá đầy đủ những nét cổ xưa của thời Trung cổ. Năm 1923 I.B. Singer quay về Warszawa làm người chữa bản in cho tạp chí Literarische Bletter. Thời gian này ông nghiên cứu triết học, ngôn ngữ, tâm lí học, các môn khoa học tự nhiên và bắt đầu thử viết văn. Năm 1927 tạp chí Literarische Bletter đăng 2 truyện ngắn đầu tay “Tuổi già” và “Người đàn bà” của ông, những năm sau đó ông tiếp tục viết truyện ngắn, dịch các tiểu thuyết hình sự Đức và các tác phẩm của Knut Hamsun, Thomas Mann.
Tiểu thuyết đầu tay “Quỷ Sa tăng ở Goray” của I.B. Singer đăng
tải trên một tạp chí trong suốt năm 1934, in thành sách năm 1943, được các nhà
phê bình đánh giá cao. Khi đảng Quốc xã lên nắm quyền ở Đức, I.B. Singer sang Mỹ định cư. Tại đây, ông cộng tác với nhật báo tiếng Yiddish
phát hành ở New York là Jewish Daily Forward và tiếp tục viết văn. I.B. Singer bắt đầu nổi tiếng khi tiểu thuyết “Gia đình Mushkat” (1945-1948) được dịch sang tiếng Anh (1950). Đặc biệt là sau khi tạp chí Partisan Review đăng truyện ngắn “Gimpel ngốc nghếch” qua bản dịch của Saul Bellow thì I.B. Singer chính thức được thừa nhận.
Độc giả Việt Nam đã có dịp làm quen với I.B. Singer từ
trước năm 1975 ở miền Nam qua một số bản dịch các tiểu thuyết bởi dịch giả Hà
Thúc Sinh: “Tình Em Vỗ Cánh”
(Magician of Lublin), NXB Kỷ Nguyên Mới, 1973; “Người Nô Lệ” (The Slave), NXB Kỷ Nguyên Mới, 1973; “Kiếp Người Cô Quạnh” (The Manor), NXB Kỷ
Nguyên Mới, 1974. Sau năm 1975, tiểu thuyết “Tìm lại người tình năm xưa” (The Slave) được dịch giả Lê Thanh
chuyển ngữ, NXB Tổng hợp Sông Bé xuất bản năm 1989; và một số truyện ngắn của
I.B. Singer được dịch, đăng trên tạp chí Sông Hương, Tạp chí Văn và các tuyển
tập truyện ngắn.
Truyện ngắn “Gimpel
ngốc nghếch” được I.B. Singer viết năm 1953, Saul Bellow (Giải Nobel văn
học năm 1976) dịch sang tiếng Anh và đăng cùng năm trên tờ Partisan Review. Đây
là một trong những tác phẩm đáng chú ý và tiêu biểu nhất về thể loại truyện ngắn
của I.B. Singer. Với câu chuyện này, S. Bellow đã góp công nâng tầm văn nghiệp
của I.B. Singer mà kết quả là giải Nobel Văn học năm 1978. Cũng giống như hầu
hết các sáng tác trong thời kỳ đầu của mình, I.B. Singer viết câu chuyện này
bằng tiếng Yiddish, và đề tài người Do Thái tìm kiếm bản ngã về đức tin và hướng
đi trong một thế giới tàn bạo được khám phá dưới hình thức dụ ngôn với các chi
tiết cường điệu phổ biến trong truyện dân gian. Các nhà phê bình ca ngợi nhân
vật Gimpel như một điển hình về “nhân vật đáng thương”- một người ngốc nghếch, bất
hạnh thường thấy trong truyền thuyết Do Thái- mà sự dại dột được phác hoạ để chuyển
tải một bài học về đạo đức.
1
Tôi là Gimpel
ngốc nghếch. Tôi không nghĩ mình là một thằng ngốc. Ngược lại là đằng khác.
Nhưng đó là những gì mà người ta gán cho tôi. Bọn họ đã đặt biệt danh cho tôi ở
trường. Tôi đã có cả thảy bảy biệt danh: thằng đần, thằng thộn, thằng đầu đất, thằng
phê thuốc, thằng đoảng, thằng ngờ nghệch, thằng ngốc nghếch. Và cái cuối cùng gắn
chết với tôi. “Thế thì tôi ngốc nghếch chỗ nào?” Tôi rất dễ bị gạt. Bọn họ nói,
"Gimpel, mày có biết vợ của giáo sĩ được đưa lên bàn đẻ rồi không?"
Thế là tôi nghỉ học. Ừ, thì đó là lời nói dối. Nhưng sao tôi cần phải biết
chuyện đó? Bà ta không to bụng. Nhưng tôi có bao giờ nhìn bụng bà ta. Như thế
thực sự là ngốc nghếch ư? Bọn họ cười hô hố, nhảy nhót ầm ĩ và hát vang bài
kinh nguyện cuối ngày. Và thay vì gửi tặng nho khô cho bà bầu lúc lâm bồn, họ nhét đầy phân dê vào tay tôi. Tôi không yếu đuối.
Nếu tôi tát một đứa trong bọn chúng, ắt nó sẽ văng đến tận Cracow [i].
Nhưng bản tính tôi không ưa đấm đá. Tôi tự nhủ: Thôi bỏ qua. Vì thế, bọn chúng
càng lấn tới.
Đang trên
đường đi học về thì tôi nghe tiếng chó sủa. Tôi chẳng sợ chó, nhưng dĩ nhiên là
cũng chẳng muốn dây dưa với chúng. Lỡ trong đám ấy có con nào bị dại, mà chẳng
may bị nó cắn thì không một thầy lang người Tartar nào chữa khỏi. Vì vậy, tôi
co cẳng chạy. Rồi tôi nhìn quanh và thấy cả khu chợ cười ầm. Chả có con chó nào
cả mà là thằng Wolf-Leib đạo chích. Sao mà tôi biết là thằng đó? Giọng hắn y
như tiếng chó tru.
Cái đám hay
chơi khăm và bọn ưa lừa lọc thấy tôi rất dễ bị gạt nên đứa nào trong bọn chúng
cũng cố thử vận may với tôi. “Gimpel, Nga hoàng ngự giá đến Frampol kìa;
Gimpel, trăng rơi xuống Turbeen đấy; Gimpel, nhóc Hodel Furpiece tìm thấy một
kho báu đằng sau nhà tắm." Và tôi giống như một con golem[ii]
tin lời tất cả bọn chúng. Thứ nhất, mọi điều đều có thể xảy ra, như nó được
viết trong Sách khôn ngoan, mà tôi đã
quên mất cụ thể thế nào rồi. Thứ hai, tôi phải tin khi mà cả thị trấn đều nhằm
vào tôi! Nếu tôi dám nói, "A các người đang trêu tôi!" lập tức tôi sẽ
gặp phiền phức. Mọi người nổi giận. "Mày nói thế là có ý gì! Mày muốn gọi
tất cả mọi người là kẻ dối trá à?" Vậy tôi phải làm gì đây? Chỉ còn cách
tin họ, và tôi hy vọng ít nhất là điều đó cũng có ích đối với họ.
Tôi là một
thằng mồ côi. Ông nội tôi- người đã nuôi tôi lớn- giờ đã yên nghỉ dưới ba thước
đất. Vì vậy, người ta gửi tôi vào một tiệm bánh mì, và quả là một khoảng thời
gian kinh khủng cho tôi khi ở đó! Các bà hay các cô đến nướng bánh đều trêu
tôi. "Gimpel, có hội chợ ở thiên đường; Gimpel, ông giáo sĩ đã sinh một
con bê khi mang thai được bảy tháng; Gimpel, một con bò đang bay trên mái nhà
và đẻ ra trứng bằng đồng." Có lần, một sinh viên học viện Yeshiva ghé vào
mua một ổ bánh mì và nói, "Gimpel, trong khi cậu đứng đây cào những mẻ
bánh mì thì Đấng Cứu Thế ngự đến. Người chết đã sống lại." "Ý anh là
gì?" Tôi nói. "Tôi không nghe ai thổi tù và cả!" Anh ta nói,
"Anh điếc à?" Và mọi người bắt đầu gào lên, "Chúng tôi nghe,
chúng tôi có nghe!" Rồi đến lượt bà Rietze thợ nến đi vào với cái giọng
khàn khàn "Gimpel, cha mẹ cậu đã đội mồ sống dậy. Họ đang đi tìm cậu
đấy".
Nói thật, tôi
biết rõ chả có gì xảy ra, nhưng cũng như mọi khi, lúc mọi người đang nói, tôi
cởi áo khoát và chạy ra ngoài. Có lẽ có điều gì đó xảy ra. Chắc tôi bỏ lỡ điều
gì chăng? Ồ, thì ra là tôi bị mắc nỡm. Từ đó tôi thề rằng sẽ chẳng tin điều gì
nữa. Nhưng điều đó chả ăn thua. Họ cứ làm tôi rối tinh rối mù cả lên chẳng biết
đầu cua tai nheo ra sao nữa.
Tôi đến gặp giáo sĩ xin vài
lời khuyên. Ông nói, "Sách đã dạy, thà cả đời ngốc nghếch còn hơn một giờ
làm điều ác. Nhưng con không phải là một kẻ ngốc mà bọn họ mới là những kẻ
ngốc. Ai làm cho những người xung quanh mình phải xấu hổ thì kẻ đó không được
lên thiên đàng". Tuy nhiên, cô con gái giáo sĩ đã cho tôi vào tròng. Khi
tiễn tôi về, cô ta hỏi tôi "Anh đã hôn vào tường chưa?". Tôi đáp,
"Chưa, mà để làm gì?". Cô ta trả lời, "Đó là luật, anh phải làm
điều đó sau mỗi lần ghé thăm bố tôi" Ừ, thì có mất mát gì đâu. Rồi cô ta
phá lên cười ngặt nghẽo. Đó là một cú lừa ngoạn mục. Cô ta đã lừa tôi, thật
hoàn hảo.
Tôi muốn đến một thị trấn
khác, nhưng rồi tất cả mọi người cố mai mối cho tôi, và họ cứ bám theo tôi dai
như đỉa. Họ lải nhải rót mật vào tai tôi. Cái cô kia chả còn trong trắng, nhưng
họ nói rằng cô ta là gái trinh. Cô ta đi cà nhắc, và họ nói rằng cô ta cố tình
ra vẻ e lệ. Cô ta có một đứa con hoang, và họ nói rằng thằng bé là em trai cô
ta. Tôi gào lên, "Các người rảnh hơi quá. Tôi sẽ không bao giờ cưới ả điếm
đó đâu". Họ phẫn nộ, "Cậu nói hay thật! Cậu không thấy tự xấu hổ à?
Chúng tôi có thể đưa cậu đến chỗ giáo sĩ và lúc đó cậu sẽ bị phạt vì đã nói xấu
cô ta." Cảm thấy sẽ không dễ thoát khỏi bọn họ, tôi nghĩ: Họ quyết tâm
biến tôi thành trò cười của họ. Nhưng khi đã kết hôn thì người chồng là chủ, và
nếu cô ta không phản đối thì tôi cũng sẵn sàng đồng ý. Bên cạnh đó, bạn không
thể trải qua một cuộc sống mà không bị tổn thương, dù chả mong muốn điều đó
chút nào.
Tôi đến ngôi nhà đất của cô
ta, nó được dựng trên cát, theo sau tôi là một đám người vừa la hét vừa đồng
thanh reo hò. Họ hành động như chơi trò trêu gấu. Khi đến chỗ cái giếng, họ
đồng loạt dừng lại. Họ sợ phải gây chuyện với Elka. Mồm cô ả sẵn sàng ngoác ra
và lưỡi cô ả không kém phần độc địa. Tôi bước vào nhà. Dây nhợ căng chằng chịt
quanh tường để phơi quần áo. Cô ả đứng chân trần và đang rửa chén bát nơi bồn.
Ả khoác chiếc áo choàng nhung đã sờn nhặt được của ai đó. Mái tóc ả thắt bím
búi ngang trên đầu. Tôi muốn nín thở. Một mùi nồng nặc tỏa khắp nhà.
Rõ ràng ả biết tôi là ai. Ả
quay sang nhìn tôi và nói, "Xem ai đây này! Anh đã đến, anh chàng khó
chịu. Ngồi đi."
Tôi đã kể toàn bộ cho cô ả,
tôi không phủ nhận điều gì. "Thật lòng nhé." Tôi nói, "Cô thực
sự là gái trinh, và thằng nhóc Yechiel tinh nghịch là em trai của cô? Đừng có
lừa dối tôi, vì tôi là một kẻ mồ côi."
"Chính tôi cũng là một kẻ
mồ côi", cô ả trả lời, "và ai cố dắt anh thì rồi họ cũng bị xỏ mũi
lại thôi. Nhưng đừng để họ nghĩ rằng họ có thể lợi dụng tôi. Tôi muốn hồi môn
là năm mươi guilders và để cho bọn họ mở cuộc quyên góp thêm nữa. Nếu không,
bảo họ hôn mông tôi đi" Cô ả thẳng thừng. Tôi nói, "Cô dâu chứ không
phải chú rể mới là người để lại của hồi môn" Ả đốp chát, "Đừng mặc cả
với tôi. Hoặc "có", hoặc "không", hoặc là biến về cái nơi
anh xuất phát."
Tôi nghĩ: chả có bánh mì nào
được nướng từ chỗ bột này. Nhưng chỗ chúng tôi không phải là một thị trấn
nghèo. Họ đồng ý mọi thứ và tiến hành đám cưới. Có một chút phiền toái là lúc
này đang xảy ra dịch lỵ. Hôn lễ được tổ chức tại cổng nghĩa địa, gần cái nhà
liệm xác. Mấy gã đàn ông thì say mèm. Trong khi hôn ước được soạn tôi nghe giáo
sĩ cao cả mộ đạo nhất hỏi, “Cô dâu là góa phụ hay là một phụ nữ ly dị
chồng?" Và bà vợ của người coi nghĩa trang trả lời thay cho cô ả,
"Vừa góa vừa ly dị." Thật là đen đủi cho tôi. Nhưng tôi phải làm gì
đây, chả lẽ chạy trốn ngay trong ngày cưới?
Họ ca hát và nhảy múa. Một bà
cụ nhảy cặp với tôi, ôm một ổ challah[iii] trắng.
Người chủ hôn hát bài kinh "Tạ ơn" để tưởng nhớ bố mẹ cô dâu. Bọn nam
sinh hát theo phát ra những âm
'r' rung, giống như trong ngày lễ Tisha B'Av[iv]. Có rất
nhiều quà tặng sau bài thuyết pháp: một khay đựng mì, một thố để trộn, thùng,
chổi, vá, cả đống đồ gia dụng. Rồi tôi thấy hai thanh niên lực lưỡng khiêng một
giường cũi. "Chúng tôi cần quái gì thứ này?" Tôi hỏi. Họ nói,
"Đừng nhọc óc về nó. Ổn cả, nó sẽ có ích đấy". Tôi nhận ra tôi sắp
sửa bị lừa. Nói cách khác, tôi đâu còn gì để mất? Tôi phản ứng: Để xem điều gì
sẽ diễn ra. Chả nhẽ cả cái thị trấn này đều phát rồ.
(còn tiếp)
[i]
Ý tác giả muốn nói đến thành phố cổ
Krakow ở Ba Lan, nơi có trại tập trung rất lớn thời Đức Quốc Xã- Krakow
Ghetto- nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với bất kì người Do Thái Ba Lan nào.
[ii]
golem: là nhân vật trong truyền thuyết Do Thái được tạo ra từ một chất nào đó
bằng phép thuật. Hình tượng golem dùng để chỉ người đần độn, chưa hoàn thiện.
[iii]
challah: là ổ bánh mì đặc biệt bện hình xoắn của người Do Thái ăn vào ngày Sabbath và các ngày lễ khác.
[iv] Tisha
B'Av: ngày thứ chín trong tháng Av của người Do Thái (thường rơi vào tháng 7
hoặc tháng 8 Tây lịch), là ngày ăn chay để tưởng niệm sự tàn phá Ngôi đền thứ
nhất (vào năm 586 trCN) và Ngôi đền thứ hai (năm 70). Ngày nay nó trở thành
ngày tưởng niệm cộng đồng cho các biến cố và thảm họa xảy đến với người Do Thái.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét